Khi minh taâm kieán taùnh roài
Thöù gì cuõng thoâng suoát töôøng taän khoâng caàn phaûi hoïc

caotang.vn

TÂY PHƯƠNG XÁC CHỈ - PHẦN MỘT

TÂY PHƯƠNG XÁC CHỈ

Giảng giải: Bồ Tát Giác Minh Diệu Hạnh

Kết tập: Cư Sĩ Thường Nhiếp
 

PHẦN MỘT

LỜI TỰA
 

Mùa Hạ năm Ðinh Mùi, tôi qua thăm phương trượng Hòa Thượng Tuyết Sơn.

Hòa Thượng lấy một cuốn sách trao cho tôi bảo: Ðây là chiếc thuyền báu.

Duyên khởi của cuốn sách này rất lạ lùng:  Vào cuối đời nhà Minh, ở Ngô Thành có tám người bạn cùng tu huyền môn. Ngày ngày thường thỉnh tiên giáng cơ luận bàn đạo thuật. Rốt sau có một vị tiên giáng xuống, luận đạo khác hẳn chư tiên khác. Do đàm đạo lâu ngày nên càng thêm thân thiết.

Mãi lâu sau, tiên chợt khuyên niệm Phật.

Mọi người hỏi:  Có nên niệm Phật không?

Tiên đáp: Nên chứ.

Mọi người đều niệm Nam Mô Phật.

Tiên bảo: Không phải niệm như vậy.

Mọi người hỏi: Vậy thì niệm ra sao?

Ðáp: Các ông nên chắp tay, chí tâm, hướng về Tây đảnh lễ, niệm Nam Mô A Di Ðà Phật.

Mọi người vâng lời.

Từ đó, tiên khéo ngầm dạy Pháp Môn Niệm Phật cho mọi người khiến họ bỏ ngụy quy chân, cầu sanh Cực Lạc. Ðến khi ấy, tiên mới bảo cho họ biết những nhân duyên quá khứ, danh hiệu Bồ Tát Ngài là một vị Bồ Tát thị hiện và hóa hiện những điềm lành như mùi hương lạ, các thứ hoa Trời… Tám người ấy đều bỏ lối tu tà vạy xưa kia, quy hướng chánh tín.

Ông Vô Hủ là thầy của bọn tám người ấy. Bồ Tát bảo ông đến xin thọ giới với Hòa Thượng Tam Muội để được trọn vẹn Tăng tướng. Lúc đầu, Hòa Thượng cật vấn, nhưng sau khi đọc xong bài kệ vịnh trăng của Bồ Tát, Ngài liền hướng về Tây kính lễ, rồi làm lễ thế độ cho ông.

Nguyên do là lúc Bồ Tát mới giáng cơ, ai cũng tưởng Ngài là tiên, bèn lấy vầng trăng làm đề mục bảo Ngài làm thơ.

Nhân đó, Bồ Tát bèn ban bài kệ như sau:

Nhất nguyệt quang hàm thiên Thế Giới

Phân thân vô lượng chiếu quần mê

Ðương tri bổn thể nguyên vô nhị

Bất động trang nghiêm biến hóa cơ.

Dịch nghĩa: Một ánh trăng chiếu trọn khắp tam thiên đại thiên Thế Giới. Phân thân vô lượng giác ngộ tất cả những kẻ còn đang si mê. Mới biết là bổn thể vốn chẳng hai. Pháp Thân bất động trang nghiêm biến hóa độ khắp các căn cơ.

Bắt đầu từ ngày 28 tháng 5 năm Quý Mùi đời vua Sùng Trinh nhà Minh cho đến ngày mồng hai tháng mười năm Ðinh Hợi đời vua Thuận Trị nhà Thanh trước sau Bồ Tát giáng cơ hai mươi bốn lần.

Những lời Ngài giảng ra đều là những điểm trọng yếu mầu nhiệm trong việc tu hành. Do trong bài kệ của Ngài có chữ xác chỉ chánh tu lộ chỉ đích xác con đường chánh tu hành nên họ bèn đặt tên tác phẩm này là Tây Phương Xác Chỉ.

Tôi đọc xong, thân tâm hớn hở khác gì được giọt đề hồ thấm sâu vào gan ruột. Bởi thế, cứ khen lạ không ngớt.

Hòa Thượng bảo: Lúc ban đầu tôi cũng chẳng tin, nhưng đọc xong rồi thần trí sáng rỡ, muốn không tin cũng chẳng nổi.

Tôi thưa: Trong những nhân duyên xưa kia, Bồ Tát với tám người ấy có duyên lớn, nghĩ thương xót họ hết mực nên mới quyền xảo tiếp dẫn họ như thế, chứ đâu có giống như những bọn thần quỷ thường giáng cơ.

Hơn nữa, con xem lúc sắp chia tay Bồ Tát có nói: Bày ra cầu cơ vốn là chuyện để thần quỷ dựa dẫm vào, chứ nào phải là việc thường ứng hóa của bậc Đại Bồ Tát.

Lẽ đâu lại coi cuốn sách này giống như sách cầu cơ ư?

Khi ấy, tôi nguyện khắc in sách này để lưu truyền rộng rãi nhằm lợi lạc khắp các hữu tình, nhưng chưa đủ nhân duyên. Mãi đến mùa Xuân năm Kỷ Dậu, các bạn đạo Tăng, tục không ai chẳng hớn hở, mừng rỡ, nguyện góp của để giúp hoàn thành việc ấn loát. Thậm chí có kẻ đọc đến liền khóc, khóc xong đọc tiếp, bỏ ngay nhà cửa, y phục, đồ đạc mình vốn yêu thích để vào núi sâu niệm Phật.

Há có phải là Bồ Tát dùng lòng vô duyên từ nhiếp hóa chúng sanh thật chẳng thể nghĩ bàn hay không?

Tôi bèn cùng hai vị lão pháp sư Linh Hy và Huệ Tiếp thuê người khắc ván. Khắc xong, bèn ghi đầu đuôi sự việc như thế.

Ngày rằm tháng Chín năm Kỷ Dậu 1669 đời Khang Hy,

Cổ Ngô Tịnh nghiệp đệ tử Lương Tây Kim Ngạc soạn.

 

TÂY PHƯƠNG XÁC CHỈ

Một thuở nọ, Bồ Tát từ cõi Cực Lạc hiện đến, giáng xuống đàn cầu cơ ở đất Cổ Câu Ngô xứ Chấn Ðán Trung Hoa cõi Ta Bà. Chúng đệ tử trong hội do có nhân duyên xưa kia với Ngài đều được hóa độ.

Ðể dạy họ Pháp Môn Tịnh Ðộ, Bồ Tát bèn nói kệ rằng:

Pháp yếu của Chư Phật

Vi mật chẳng nghĩ bàn

Do chẳng nghĩ bàn nổi

Chẳng thể nói hết được

Ðại Từ Phụ Mâu Ni,

Xót thương các chúng sanh

Nói pháp chẳng thể nói

Dạy đời này, đời sau

Lại dùng phương tiện lạ

Hiển thị cõi An Lạc

Khiến phát nguyện vãng sanh

Cắt ngang các nẻo ác

Do Phật A Di Ðà

Ðại nguyện nhiếp các phẩm

Nghe danh Phật thọ trì

Quyết định sanh, chẳng lầm

Quyết định được vãng sanh không còn lầm lẫn chi nữa

Nếu có kẻ đại lực

Chuyên niệm thường nhất tâm 

Thành tựu tam muội sâu

Hiện tiền cũng thấy Phật

Nay ta theo đúng như

Lời Đức Phật đã dạy

Sẽ khai hóa chỉ dạy

Nghĩ các ngươi mê đảo si mê, điên đảo

Chỉ đích xác con đường

Hầu tu hành chân chánh

Ðây chẳng phải là duyên

Hèn kém, nhỏ nhoi đâu.

Phải nghĩ tưởng khó gặp

Ðường Tây phương vạn ức

Một niệm tin liền được.

Bồ Tát nói kệ xong, bảo các đệ tử đọc to một lượt, lại bảo: Các ông từ trước đến nay tu học huyền thuật, tâm yếu kém, tu hành tà vạy. Do túc duyên ta nghĩ rất thương các ông nên đến đây dạy bảo. Nay trước hết ta chỉ ra Tây phương Tịnh Ðộ là một môn chánh hướng, chánh tu. Sợ các ông còn lo ngờ chưa thể sanh lòng tin cùng cực nên tiếp đây, ta sẽ nói danh hiệu của mình cùng pháp chính mình đã chứng để mọi người biết kẻ nói pháp này là một vị đại Bồ Tát.

Này các thiện nam tử!

Trong lúc tu nhân xưa kia, ta dùng diệu trạm giác tâm thấy rõ:  Trong hết thảy tất cả các cõi nước, các chúng sanh đều cùng có đủ cái tâm ấy nên liền giác ngộ trọn vẹn Diệu Giác, giác ngộ rõ ràng diệu tâm, khởi ra vô lượng diệu hạnh độ các chúng sanh. Bởi thế, A Di Ðà Phật ban cho ta danh hiệu Giác Minh Diệu Hạnh. Từ nay các ông nên quy y, đừng ngờ vực chi nữa.

Khi ấy tám người trong hội cùng chắp tay, chí tâm niệm Nam Mô Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát, đứng lên lễ kính.

Bồ Tát bảo: Lành thay!

Ðúng như vậy đó.

Có người hỏi về cách trì Tụng Kinh Chú, Bồ Tát dạy: Trì Kinh Chú nghĩa là tự trì cái tâm của mình. Cốt yếu là phải hiểu rõ thẳng vào tâm địa.

Nếu chỉ nghĩ cứ trì cho thuần thục, tụng cho nhiều, lại niệm Kinh này, chú nọ, vị Phật kia rồi bảo là mình có công đức lớn, nhưng chẳng thể câu nào cũng quy trọn về tự tánh, cũng chẳng hiểu sâu xa nổi chân lý mầu nhiệm của Như Lai mà bảo là có thể nhờ đó chứng quả thì các ông có thấy chăng:

Nơi ngã tư đường, hoặc là kẻ không mắt, kẻ không chân, hoặc ăn mày nam, hoặc ăn mày nữ suốt ngày miệng ra rả niệm đến tận đêm. Tính số câu niệm Phật họ niệm suốt năm kể ra cũng phải hơn mấy mươi vạn biến. Rốt cuộc vẫn là kẻ tàn tật, kẻ ăn mày, chưa hề chứng được mảy may quả vị nào cả.

Vì sao vậy?

Chỉ vì họ chẳng hiểu biết, thiếu hạnh mà thôi.

Cho nên các ông phải biết là: Trì Kinh nào thì phải nên nương theo kinh đó mà tu hành.

Lại phải phát đại nguyện: Hoặc cầu sanh về cõi Phật, hoặc cầu sáng tỏ tâm địa, hoặc phát sanh đại trí huệ, hoặc lợi lạc khắp các chúng sanh. Ðều nhờ vào sức thần thông to lớn, sâu xa của Đức Như Lai để thành tựu sở nguyện của hành nhân.

Có thế mới đúng là trì Kinh, Trì Chú, niệm Phật. Vị sư già Thiên Nhiên vì bệnh lâu chẳng lành, tính vào Kính Sơn chờ chết, đem xương gởi vào Tháp Phổ Ðồng.

Bồ Tát dạy: Ông muốn ở trong núi chờ chết thì thật là đang vô sự lại bới việc ra.

Ông lo không có chỗ để an bài mấy khúc xương già ư?

Ông không biết là một khi mắt đã nhắm lại rồi, hai chân đã duỗi xuôi thì mặc tình kẻ khác dao bằm, búa chặt, lửa đốt, nước trôi cũng chẳng ăn nhằm chi đến ông hết.

Ông lại toan bày kế lâu dài cho kẻ khác thì thật là ngu si quá đỗi.  Vả lại, cái thân này lúc sống còn đã là vô ích huống hồ là sau khi chết đi. Nay ông nên bỏ bớt các sự, chỉ trì mỗi một câu A Di Ðà Phật, niệm niệm chẳng buông thì Phật Di Ðà trở thành bạn tốt của ông.

Lúc đại hạn xảy đến, Ngài sẽ hiện thân tiếp dẫn, được sanh về Cực Lạc, chẳng tốt hơn vào núi đợi chết hay sao?

Hơn nữa, sanh, lão, bệnh, tử là những nỗi khổ thế gian khó lòng tránh khỏi. Ông mắc bệnh đã lâu thì cũng chẳng quan tâm là bệnh lành hay không lành, cứ nhất tâm niệm Phật.  Sống cũng được mà chết cũng được là xong. Ông Tăng Bất Nhị tính theo thầy thọ giới.

Bồ Tát dạy: Tiếc thay, tiếc thay.

Tướng mạo đường đường, oai nghi bệ vệ, chẳng biết tự quy.

Xét việc ông làm khác chi kẻ tục.

Ta thấy ông thân ở chốn này mà hồn đã dạo nơi địa ngục. Phải nên gấp rút tu tỉnh, đoạn ác làm lành, thượng cầu Phật quả, hạ hóa quần sanh. Chẳng nên hôn hôn muội muội, để lỡ tấc bóng hữu hạn, tự vướng phải phiền lụy muôn kiếp.

Còn như việc thọ giới, chẳng thọ thì thôi, chứ nếu đã thọ thì chẳng được hủy phạm dẫu bằng tơ tóc. Phải giữ gìn giới luật thanh tịnh như bạch bích, minh châu, trọn không chút tỳ vết. Có như vậy mới thành được giới phẩm. Giới chính là căn bản để tam thế Chư Phật nhập đạo, đừng coi như trò đùa.

Lại phải tĩnh tu hoặc cầu học các phương và thân cận bạn lành, xa lìa những kẻ thô Tháp, hèn kém. Thân bạn lành thì đạo nghiệp dễ hành, gần bạn ác thì giới hạnh dễ mất.

Hai câu ấy chính là yếu quyết để học đạo của cả một đời, nên nhớ kỹ lấy. 

Anh em ông Mã Vĩnh Tích đời trước làm thợ săn. Một buổi nọ vào núi cùng giết chết một con nai nên bị quả báo đoản mạng. Nhưng hễ họ thấy tượng Phật trong Tháp bị đổ xuống đất liền nâng lên, kê cho chắc chắn, lễ bái xong mới đi. Do bởi nhân lành đó, họ lại được thọ thân người. Trước hết, Bồ Tát vì ông Vĩnh Tích khai thị việc ấy xong, Vĩnh Tích hoảng sợ, cầu phương cách sống lâu.

Bồ Tát bảo: Xưa kia nơi chùa Diệu Giác ở phương Bắc có một chú bé Sa Di, tuổi mới mười sáu.

Có một thầy tướng nói về lẽ sống chết của con người không sai một mảy, bảo chú Sa Di rằng:

Giữa Thu năm mười tám tuổi, chú sẽ chết.

Chú Sa Di sợ quá, ban đêm cầu đảo Đức Phật, nguyện Phật ban cho một quyển kinh nào đó trong Ðại Tạng để chú trọn đời thọ trì hầu cầu trường thọ. Bạch xong, buồn khóc khôn ngăn được nổi, lại lễ Phật lui ra. Vào trong gian phòng chứa Ðại Tạng kinh, tiện tay lấy được quyển Kim Cang Bát Nhã, chú bèn chép lấy để thọ trì ngày đêm chẳng biếng nhác.

Chú còn trì giới tinh nghiêm, liễu ngộ huyền lý. Ðến năm bốn mươi tuổi, đạo phong của sư lưu truyền rộng khắp, tứ chúng quy ngưỡng. Sau đến năm tám mươi tuổi, sư mới tọa hóa ngồi mà viên tịch. Ðấy chính là Vi Hạnh Thiền Sư ở Lạc Dương. Chuyện xảy ra vào niên hiệu Khai Nguyên thứ sáu đời Ðường Huyền Tông, ta đích thân thấy.

Nay ông sợ đoản mạng, muốn cầu sống lâu thì nên bắt chước Chú Sa Di đó, tìm bản Kinh Kim Cang chép đầy đủ nhất rồi phát tâm biên chép, siêng tu tập đọc tụng, lại cầu hiểu được ý nghĩa Kinh. Ðấy chính là nội công đức.

Kể từ ngày hôm nay chẳng được sát hại sanh mạng loài vật, phải thương yêu chúng như chính thân mình. Lại phải tích chứa nhiều âm đức, đó là ngoại công đức. Tu cả trong lẫn ngoài thì công đức rất lớn.

Tự mình hợp với lẽ Trời, lý yểu thọ chẳng hai đã lập như thế thì lo gì tuổi thọ chẳng lâu dài?

Nhưng từ đầu đến cuối phải cẩn thận gìn giữ như thế khác nào chú Sa Di kia mãi đến năm tám mươi tuổi chẳng hề biếng trễ thì mới hợp đạo. Chớ nên có đầu không đuôi, hoặc hành mười ngày, nửa tháng, một năm, hai năm rồi buông tay bỏ lửng. Nếu thật có thể trọn đời tuân phụng, trước sau chẳng gián đoạn mà ông chẳng được toại nguyện sở cầu thì Chư Phật cùng ta đều mắc tội vọng ngữ.

Bồ Tát dạy ông Trần Ðịnh Chuyên như sau: Cha con ông phụng hành lời ta dạy, thật là hiếm có. Nhưng các ông phải bền chí lâu dài, chẳng được sanh ý niệm mong cầu cảm ứng. Ðối với hai chữ Tu Hành phải giữ đúng như việc mặc áo, ăn cơm hằng ngày mới được.

Bồ Tát dạy mẹ ông Tra Ðịnh Hoằng: Bà trước kia có tâm niệm hướng về ðạo, nhưng chưa gặp được người chân chánh, thật là đáng thương. Nay ta sẽ vì bà phân biệt khai thị. Ðời  xưa kia, bà làm Tỳ Kheo, tận lực tu hành tinh tấn, ngày đêm chẳng biếng nhác vì tâm chí mãnh liệt.

Trong lúc tịnh định, bà chợt khởi lên ý nghĩ: Tại sao mình chẳng được mau thành Phật?

Lại một ngày kia, nghe nói Chư Phật vô tướng, tâm này chính là Phật, sư càng thêm suy nghĩ bậy bạ, cho là: Các pháp không tịch, tâm ta là Phật thì cần gì tu tập nữa.

Sư chẳng biết câu ấy nói về lý không rốt ráo, chứ chẳng phải lời để kẻ mới nhập pháp giới dễ dàng nói được. Ông Tỳ Kheo từ đấy đọa vào tà kiến, chẳng siêng năng tu tập nữa, tự bảo mình đã chứng đại đạo cho nên mê càng thêm mê, trầm luân trong đêm dài.

Thương thay chúng sanh, cầu đạo chẳng gặp được thiện tri thức chân chánh, chưa thoát được lưới rập, không thể không thận trọng.

Nay bà nên biết: Do vì xưa kia tà kiến nên chịu báo ngũ lậu, đánh mất chánh tri kiến, lại gặp tà sư, vướng phải nọc độc, há chẳng nên sanh lòng khiếp sợ ư?

Nay bà phải mau phát chánh tín, chí tâm ức niệm Nam Mô A Di Ðà Phật, cầu sanh cõi nước Cực Lạc.

Ông Vô Hủ vì một người bạn hỏi: Thọ được bao lâu?

Bồ Tát dùng kệ đáp:

Mạng người như sương sớm,

Hư phù không định kỳ

Nếu chưa thoát mộng huyễn

Mong biết trước làm chi?

Ngài lại dạy: Ðừng hỏi kỳ hạn cho ông ta làm chi, đến ngày ba mươi tháng chạp sẽ phải bận rối rít chân tay cả lên người bạn ấy quả nhiên bị bệnh mất vào ngày ba mươi tháng chạp năm sau. Ông Vô Hủ nghe dạy, lại xin Bồ Tát khai thị.

Bồ Tát nói: Ông Nguyên Bá nên biết học đạo mà chẳng minh được cái tâm này thì giống như xây nhà không có nền, qua sông không bè.

Muốn minh tâm nên vi tế quán sát đến tột cùng xem cái thân, cái tâm này tự đâu mà có?

Thân đã là tứ đại hư huyễn thì tâm biết gửi vào đâu?

Thân tâm đã là huyễn thì Thế Giới và vi trần trọn chẳng sai biệt.

Muôn pháp trước mắt sanh ra từ đâu, diệt đi về đâu?

Nếu không sanh diệt thì cả hai thứ năng chiếu, sở chiếu đều không có chỗ để nương vào, tự thấy Chân Như Tịch Diệt khắp chốn.

Cú Khúc Khổng Sanh trì trai suốt hai mươi năm, tự nghĩ mình già yếu, băn khoăn sau khi chết sẽ ra sao nên buồn khóc không dứt.

Bồ Tát dạy: Ðừng có buồn khóc. Chỉ cần tin sâu, tuân hành theo đúng lời ta, tự sẽ có chỗ tốt lành để an thân.

Nói xong, Bồ Tát dạy bài kệ rằng:

Tây phương có Tịnh Ðộ

Nhân thiên đều nương về

Ông tu Pháp Môn này

An ổn chẳng kinh nghi.

Trầm Văn Châu là thầy trị thương hàn nổi tiếng chợt đến làm lễ.

Bồ Tát hỏi: Nếu hàn khí xâm nhập tâm bào thì gọi là bệnh gì?

Ông Trầm đáp: Gọi là trúng hàn.

Nhân đó, Bồ Tát dạy đại chúng: Các ông chỉ biết hễ hàn khí xâm nhập tâm bào thì gọi là chứng trúng hàn, chứ chẳng biết nếu tà xâm nhập tâm thì gọi là bệnh tổn mạng. Các vị chỉ nghĩ thân bệnh mới là bệnh, lo điều trị, còn cái tâm mắc bệnh nặng thì chẳng cần tìm thầy thuốc giỏi, chẳng cầu diệu dược, mặc lòng chịu khổ chẳng hay biết chi.

Ðáng buồn thay!

Vâng lời Bồ Tát dạy, ông Trần Ðại Tâm niệm Phật cực kỳ chí thành.

Bồ Tát dạy cho bài kệ sau:

Trong ao bát đức đã trồng sen 

Quả nhiên nhất niệm thật thâm huyền

Vun bồi tuy cậy Như Lai lực

Nở lớn toàn nhờ quyết định tâm.

Bát đức trì trung liên dĩ chủng,

Quả nhiên nhất niệm thậm thâm huyền

Tư bồi tuy tạ Như Lai lực

Trưởng dưỡng toàn bằng quyết định tâm

Ngài lại dạy đại chúng: Cõi này có kẻ phát nguyện vãng sanh thì cõi An Lạc liền sanh một đóa sen nên ta mới nói như vậy. Các ông phải nên sanh lòng tin sâu xa.

Ông Tôn Trung Bạch ưa thuật luyện linh đan, lâu ngày chẳng có công hiệu gì. Nhân đó, đến pháp hội lễ bái Bồ Tát.

Ngài quở: Hôm nay ông già hói đầu mới chịu mất mặt đến gặp ta đó ư?

Ta hỏi ông: Kim đan khi nào luyện mới thành?

Ông thưa: Vẫn còn đang cầu luyện được thành.

Bồ Tát bảo: Nếu luyện thành thì ngàn vạn viên kim đan nhớ lưu lại mấy viên đừng có nuốt hết vô bụng, đợi đến khi ông gặp mặt lão già Diêm La hãy khéo đem tặng mấy người thuộc hạ của ổng. Này ông lão si ngốc. Chuyện đó chẳng phải là phận sự của ông, chi bằng ông hãy lo bổn phận của mình đi.

Ông Tôn bái tạ.

Lát sau, Bồ Tát lại bảo: Này ông già si ngốc.

Ông có biết được bổn phận của mình rồi chưa?

Ông Tôn đáp: Cầu tự tánh chính là bổn phận của con.

Bồ Tát dạy: Ông biết tự tánh đó là lớn hay nhỏ, là xanh hay vàng?

Ðáp: Tự tánh không có những tướng như thế.

Bồ Tát dạy: Nếu vậy thì ông muốn hướng đến chỗ nào để cầu thấy được?

Ông Tôn nín lặng, rồi sanh lòng tin, Quy Y, nguyện làm đệ tử, cầu Bồ Tát ban cho pháp danh.

Bồ Tát lại dạy bài kệ sau:

Tánh không tướng lớn, nhỏ, xanh, vàng,

Nào có thanh, danh để ông gọi

Chẳng đạt chỗ huyền diệu trong ấy

Một câu, nửa chữ cũng sai ngoa.

Ta nay miễn cưỡng đặt tên cho ông là Ðạt Bổn. Từ nay quang âm của ông chỉ còn bảy, tám năm là nhiều, đừng bỏ lỡ công tu hành khổ hạnh suốt băm sáu năm trong tám trăm năm trước kia.

Nhân đấy, ông Tôn hỏi kết cục của thân mình sẽ ra sao.

Bồ Tát đáp: Kết cục là kết cục, lại còn hỏi kết cục là như thế nào nữa ư?

Ông Tôn bèn hỏi nên tu trì như thế nào?

BồTát dạy: Một Pháp Môn Tịnh Ðộ có thể nhiếp hóa rộng khắp các phẩm. Ông đã hỏi cách tu trì thì nên niệm A Di Ðà Phật, phát nguyện vãng sanh. Hễ đạt được một điều thì trăm việc đều xong, ông còn phải lo chi nữa.

Bồ Tát lại dạy mọi người như sau: Từ cổ, giáo pháp của các bậc đại Thánh, đại hiền lúc mới được thành lập đều thật tinh yếu, thật giản dị. Bậc thượng căn nghe đến liền giác ngộ, kẻ trung căn, hạ căn nghe rồi đều tu tập, đều quy về đại đạo. Ðời sau trước thuật, bày ra lời lẽ rườm rà, lý thuyết phức tạp khiến kẻ phàm phu chấp chặt thành kiến chấp, đến nỗi càng dạy càng sai, tin sâu những điều tà quái, lầm lạc cả đời, trọn chẳng tự giác.

Như ông Ðạt Bổn vì đọc các sách nói dạy về cách tu tiên, chẳng biết pháp yếu nên tin tưởng tà vạy vào những điều ngoa truyền, tự cho là mình chứng đắc, chấp chặt không buông bỏ nổi, bạc đầu vẫn chẳng thành tựu, sanh ra lắm nỗi phiền não. Bồ Tát thấy ông ta thật là đáng thương quá. Vì thế các ông phải biết lỗi xưa, nên tôn sùng chánh tín.

Một khi nọ, lúc Bồ Tát sắp giáng lâm pháp hội, cả tám người đệ tử: Vô Hủ, Thường Nhiếp, Thường Nguyên, Ðịnh Mậu, Ðạt Bổn, Tra Ðịnh Hoằng, Trần Ðịnh Chuyên, Tra Ðịnh Mẫn cung kính, nghiêm trang chờ đợi, cùng xướng Phật hiệu, chợt nghe mùi hương lạ từ trên không trung lan tới. Mọi người đều hoan hỷ, cho là chưa từng có.

Bồ Tát nói: 

Lành thay!

Lành thay!

Các ông có biết là chúng ta họp mặt ngày nay là do túc nhân hay chăng?

Xưa kia, vào năm Thiên Giám thứ sáu đời Lương Võ Ðế năm 507, ta Xuất Gia ở chùa Tịnh Nhân thuộc Ðông Quận của nước Bắc Ngụy làm một vị đại Tỳ Kheo. Nhân tránh loạn nên đi xuống miền Nam, trụ tích dưới chân núi Kê Minh. Lúc ấy, tám người theo ta tu học. Chẳng lâu sau, do nạn binh đao nên lạc mất nhau. Hai năm sau đó, ta thị tịch tại chùa Thiên Trúc ở Vũ Lâm.

Sau đấy, dưới triều vua Ðường Hy Tông ta lại làm con cả của Hiến Vương ở Thanh Hà, cũng bỏ quan vị Xuất Gia. Hiện tại, tám người các ông cùng tụ hội niệm Phật cũng do chính ta khai phát đạo tâm, thật giống hệt như xưa chẳng khác.

Nhưng kể từ khi các ông xa cách ta đến nay suốt hơn tám trăm năm, vẫn cứ nổi trôi chưa biết hồi đầu, thật là đáng thương, thật là đau đớn. Nay ta vì các ông chỉ rõ lại các hạnh nghiệp đã tu cho mau được thành tựu, sớm được giải thoát, ai nấy phải lắng nghe kỹ.

Bồ Tát dạy ông Vô Hủ: Từ trước đến nay, tuy ông học theo huyền môn nhưng vẫn cung kính Chư Phật. Nên biết rằng đấy là do túc nhân. Giờ đây ông phải nên mau phát thâm tâm, siêng tu tịnh nghiệp làm người hướng dẫn những người khác, chẳng để lỡ uổng thời gian mười ba năm này.

Ta truyền cho ông bài kệ sau đây:

Tám trăm năm trước sẵn tiền duyên

Ngày nay gặp gỡ chỉ thanh thiên,

Ðã biết trăng thu nơi bổn tánh

Chớ đến Trường giang nhọc kiếm thuyền

Bồ Tát dạy ông Thường Nhiếp: Ông thường trì Ðại Bi thần chú, vậy ông trì như thế nào?

Thường Nhiếp thưa: Chú được trì rành rẽ phân minh, tâm Trì Chú trọn bất khả đắc.

Bồ Tát bảo: Trì được như thế mới gọi là Trì Chú chân chánh.

Ta có bài kệ phó chúc cho ông:

Ông Trì Ðại Bi Chú

Nên biết đại bi tâm

Ly danh lẫn ly tướng

Dùng đó độ quần sanh.

Bồ Tát dạy ông Thường Nguyên: Ông đã Xuất Gia thì cần phải khiêm nhường, nhu hòa, kính thờ sư trưởng, chẳng nghĩ cầu lợi cho mình, tăng trưởng chí khí, chớ đừng suốt ngày ngồi lẫn trong mây khói. Ông Nguyên không hiểu.

Bồ Tát lại dạy: Ông mù mờ như vậy thì có hiểu được cái tâm của chính mình hay không?

Ông Nguyên im lặng. Bồ Tát dạy ông tụng một biến Chú Chuẩn Ðề, ông Nguyên vâng lời tụng theo.

Bồ Tát bảo: Ðấy chẳng phải là cái tâm của ông thì gọi nó là cái gì?

Kệ rằng:

Thấy cái sơ vô tâm

Chính là bổn tâm ông

Một biến chú Chuẩn Ðề

Toàn thể thảy phân minh.

Bồ Tát dạy ông Ðịnh Mậu: Ông Trì Chú Chuẩn Ðề hằng ngày phải dụng tâm miên mật, vi tế, quán hết thảy cảnh dù ồn hay lặng, dù vật hay chẳng phải vật, dù ưa hay chán, không thứ chi chẳng phải là hiện thể của chú này, chính là diệu tâm của ta lưu xuất trong mỗi khắc. Phụng trì như thế ắt đắc quả chứng.

Ta cũng dùng thần lực giúp ông thành tựu, nên tụng bài kệ của ta:

Ðôi dòng bí mật

Tức bổn tâm ông

Chớ bảo diệu pháp

Là pháp thậm thâm.

Bồ Tát hỏi ông Ðạt Bổn:

Ông muốn gì?

Ðáp: Con muốn minh tâm.

Bồ Tát bảo: Nói suông đầu môi chót lưỡi mà được sao?

Phải siêng niệm Phật, công ấy gấp mười.

Lại dạy cho ông bài kệ như sau:

Ngoài tâm không Phật

Phật là tâm ông.

Tin sâu chẳng ngờ

Nhất niệm vô sanh.

Bồ Tát dạy ông Tra Ðịnh Hoằng: Ông trì Kinh Kim Cang Bát Nhã nên biết là có bảy lúc chẳng nên trì Kinh.

Tức là: Tâm hôn ám thì chẳng nên trì, có lầm lỗi thì chẳng nên trì, vào chỗ bất tịnh vừa xong chẳng nên trì, sau khi uống rượu chẳng nên trì, bị người quấy nhiễu chẳng thanh tịnh thì không trì, có sự sắp phải làm mà mình chưa làm thì không trì, tâm nhớ giữ điều chi khác thì đừng trì. Nếu bền lòng thọ trì thì phải tránh điều ấy.

Tụng đến thuần thục thì liền ngay trong khi quán tâm mà trì. Nếu làm được như vậy thì công đức chẳng thể nghĩ bàn, quả báo chẳng thể nghĩ bàn. Phật nói ra lời thành thật, ông phải nên gìn giữ lấy.

Ta dạy ông bài kệ sau đây:

Một Kinh Bát Nhã

Công đức vô tận

Nhổ gốc vọng tưởng

Thoát bệnh sanh tử

Bồ Tát dạy ông Trần Ðịnh Chuyên: Kẻ tiểu nhân làm ác chỉ sợ người khác biết, người quân tử làm lành cũng chỉ sợ người khác biết. Ông nên dùng cái tâm dè dặt của người quân tử để làm Phật Sự.

Ta bèn có bài kệ như sau:

Ðừng mong người khác biết

Chớ mong Trời cảm ứng

Thường giữ được nhất tâm

Cho kiên cố, chân chánh.

Bồ Tát dạy ông Trần Ðịnh Mẫn như sau: Ông chưa đầy hai mươi tuổi đã biết quy hướng về đạo, thật là sẵn túc nhân. Nay ta đặt tên cho ông là Mẫn.

Chữ Mẫn có bốn nghĩa: Thông duệ, siêng gắng, mầu nhiệm, và nhanh chóng. Thông duệ để trừ sự tối tăm của ông. Siêng gắng là ngăn trừ biếng lười, mầu nhiệm là khai phát trí huệ, nhanh chóng là phát khởi những gì ông bỏ phế. Ông nên nhìn vào cái tên ấy, suy nghĩ ý nghĩa, đừng nghĩ là Bồ Tát chỉ cho ông một cái tên suông mà thôi.

Ta lại dạy ông bài kệ sau:

Ông tuổi còn nhỏ

Nên học hiếu đễ

Ðể mà giữ thân

Ðừng đánh mất chí.

Ngày hôm ấy, ông Trần Ðại Tâm đến sau mọi người, Bồ Tát hỏi: Ông tu trì thế nào?

Ông đáp: Con chỉ tu Tịnh Ðộ.

Bồ Tát bảo: Ngoài pháp này ra, còn có pháp nào hơn được nổi đâu?

Ta ban cho ông một bài kệ:

Ðạo không nói gì khác,

Chỉ là tâm mà thôi

Thai sen vừa mới thành

Chuyên ròng, đừng nhị tâm.

Bồ Tát nói: Một môn Tịnh Ðộ ta dạy đó thật sự là tâm tông của Chư Phật, là đường tắt của Trời người. Nay các ông tuy cầu vãng sanh nhưng phát nguyện chưa thiết tha, như người vào trong biển cả chẳng nhặt lấy bảo châu thì chỉ nhọc nhằn vô ích thôi.

Xưa kia vào thời Tấn Minh Ðế 323 - 326, ta mang thân nghèo hèn.

Vì bần khổ nên phát đại nguyện rằng: Tôi do túc nghiệp chịu lấy khổ báo này. Nếu ngày hôm nay tôi chẳng được thấy đức A Di Ðà Phật, sanh về cõi Cực Lạc, thành tựu hết thảy công đức thì dẫu cho táng thân trọn chẳng lui nghỉ.

Thề xong, trong bảy ngày bảy đêm, chuyên tinh ức niệm, tâm liền được khai ngộ, thấy A Di Ðà Phật: Tướng hảo quang minh khắp cả mười phương Thế Giới. Ở ngay trước Phật, ta đích thân được thọ ký. Sau đấy, đến năm bảy mươi lăm tuổi ngồi tịch.

Ðã sanh về cõi Cực Lạc rồi, sau vì ý nguyện độ sanh sâu nặng nên lại sanh vào Thế Giới này, tùy theo từng nơi mà hiển hóa: Hoặc làm Tỳ Kheo, hoặc làm Cư Sĩ, hoặc làm Quốc Vương, hoặc làm quan lại, hoặc mang thân nữ, hoặc làm kẻ đồ tể, ăn mày, dù ẩn hay hiển, dù thuận hay nghịch, đều tùy thuận thuyết pháp, dẫn dắt các phẩm loại.

Lại vì đa số chư tiên chẳng ngộ chân thường, ham thuốc trường sanh, chẳng mong tấn tu, ta bèn hiện thân tiên cứu họ khỏi đọa đường mê như chuyện đời vua Ðường Hy Tông. Nay ta lại vì các ông phân biệt rõ tà chánh, xiển dương Tịnh Ðộ. Các ông phải nên nhất ý nhất tâm, tu trì bền chặt Pháp Môn này, chẳng lầm lạc nữa.

Nếu tâm chí chuyên nhất bền chặt thì chẳng cần phải đợi chết đi mới vãng sanh mà ngay hiện tiền cũng được thấy Phật giống như ta khi xưa chẳng khác.

Ta có bốn câu kệ như sau:

Nói ít một câu chuyện

Niệm nhiều một câu Phật

Ðánh chết được vọng niệm

Pháp Thân ngươi hiển lộ.

Hoặc có kẻ hỏi: Kẻ học nhân làm thế nào để lìa được trần dục, được vô chướng ngại?

Bồ Tát dạy: Ta sẽ do cái nhỏ mà suy ra cái lớn, từ cái bên ngoài suy ra cái bên trong. Các ông nên khéo hiểu nghĩa ấy.

Có kẻ làm như thế này: Vô cớ đoạt mất của ông một tiền thì các ông có nổi nóng hay không?

Ðáp: Tuy một tiền là nhỏ nhưng thấy có kẻ đoạt mất thì sân.

Lại có kẻ vô cớ cho các ông một tiền, có sanh lòng vui sướng chăng?

Dẫu một tiền là nhỏ, nhưng thấy có người cho ắt mừng.

Có người đáp: Một tiền rất ít nên được cho cũng chẳng đáng vui, bị đoạt mất cũng chẳng đáng giận.

Bồ Tát bảo: Ông biết được như thế thì tâm phải thanh tịnh từ lâu, sao mãi đến giờ đây vẫn còn chìm đắm trong trược cấu?

Các ông phải biết đó là vì học nhân chẳng cẩn mật tẩy trừ cái tâm nên thấy có, thấy không, chỗ nào cũng dính mắc hết, niệm nào cũng tham.

Do vì nghiệp thức rộn ràng không thể tạm đình chỉ cho nên dẫu niệm một câu A Di Ðà Phật, tâm tưởng vẫn rong ruổi theo cảnh ngoài như cũ, chưa thể trong khoảnh khắc quy về một chỗ được. Ấy là do các ông trong vô lượng kiếp chưa hề phát khởi cái tâm xa lìa trần dục dẫu trong một lúc hay trong một ngày.

Bởi thế, từ vô thỉ kiếp đến nay, trần dục chưa hề chịu lìa khỏi tâm các ông trong một lúc hay trong một ngày.

Thân trói buộc, tâm vấn vít, thâm nhập lưới trần, nào có được như hoa sen tuy mọc lên từ bùn nhơ nhưng chẳng bị nhiễm bẩn.

Vì vậy, muốn đoạn tham chấp thì trước hết đối với chuyện người khác đoạt mất hay ban cho một tiền phải quán sát buông bỏ, phải coi đó chẳng phải là chuyện của mình, bị đoạt mất không sân, được cho cũng chẳng vui.

Như thế cho đến trăm ngàn vạn tiền, cho đến ức ức vạn tiền, cho tới quốc thành, thê tử, cho đến thân nhục cốt tủy, cho đến tâm ý, ý thức quá khứ hiện tại vị lai, thậm chí sanh tử nghiệp báo, Bồ Ðề, Niết Bàn, hết thảy đều coi giống như chuyện được cho hay bị đoạt mất một tiền chẳng khác gì thì tự nhiên tập khí, hữu lậu tiêu mất, chướng duyên vĩnh viễn diệt mất, dần dần được thanh tịnh, thành tựu đạo phẩm.

Các ông nên y theo đó mà tu hành, đừng đắn đo đến nỗi bị vướng mắc, trở ngại. Ngày mồng hai đầu mùa đông là ngày Đản Sanh của Bồ Tát, mọi người bày lễ chúc thọ.

Bồ Tát hỏi: Các ông lấy vật gì mừng thọ ta?

Ai nấy đều thưa: Dùng tâm cúng.

Bồ Tát hỏi: Tâm là vật gì mà đem cúng được?

Ðáp: Chỉ một tấm lòng chí thành, vốn không có vật gì.

Bồ Tát bảo: Ðã bảo là không vật thì ai biết là chí thành?

Nếu biết là chí thành thì ắt phải có xứ sở.

Ðã nêu bày được sao còn nói là chẳng có vật gì?

Ðáp: Thật chẳng thể được.

Bồ Tát nói: Các ông nói là chẳng được thì đó là tạm không có hay là quyết định không có?

Mọi người suy nghĩ chưa đáp nổi thì Bồ Tát nói:Nếu không thì quyết định là không, hễ có thì quyết định là có. Nghi ngờ chút xíu sai cách muôn trùng. Phải biết là các ông nói là chân thành hay hư vọng, bảo có, nói không đều là tâm khởi diệt, suy tính, cân nhắc, so đo. Ðem cái tâm ấy chúc thọ ta thì đều vô ích cả.

***