Khi minh taâm kieán taùnh roài
Thöù gì cuõng thoâng suoát töôøng taän khoâng caàn phaûi hoïc

caotang.vn

TÂY PHƯƠNG XÁC CHỈ - PHẦN HAI

TÂY PHƯƠNG XÁC CHỈ

Giảng giải: Bồ Tát Giác Minh Diệu Hạnh

Kết tập: Cư Sĩ Thường Nhiếp
 

PHẦN HAI
 

Hãy nghe diệu kệ của ta:

Chí chân vô nhị tâm

Chí chân vô lượng tâm

Tâm chẳng phải hết thảy tâm

Hết thảy tánh chẳng phải tâm

Trừ vọng tâm chẳng thật,

Nương chân tâm cưỡng gọi

Chân lẫn vọng chẳng lập

Nam Mô Phật Thích Ca

Hiểu tâm không xứ sở

Phương tiện phước quần sanh.

Khi ấy, các đệ tử lại đều làm lễ, xin được nghe pháp yếu.

Bồ Tát bảo:

Lành thay!

Lành thay!

Các ông lại mong được nghe pháp yếu, chí thành tin hiểu lời ta dạy, hãy khéo đáp câu hỏi của ta: Ví như có kẻ bảo người khác là Yên Kinh Bắc Kinh là kinh đô của đế vương, phú quý khôn sánh.

Người ấy nghe nói có mong đến được nơi đó hay không?

Mọi người cùng đáp: Dạ có.

Bồ Tát bảo: Ông chẳng biết đường đi thì làm sao đây?

Mọi người cùng đáp: Ðã có người chỉ vẽ thì cứ theo lời chỉ ấy mà đi.

Bồ Tát nói: Chẳng được.

Nếu kẻ đó chỉ đi về phương Nam hay phương Ðông mà các ông chẳng rành, cứ theo lời chỉ mà đi thì càng lúc càng xa Yên Kinh hơn nữa.

Mọi người hỏi: Nếu vậy thì nên làm như thế nào?

Bồ Tát dạy: Rốt cuộc, có người đã từng đến Yên Kinh, dạy người ấy như sau. Ngươi phải đi theo hướng Bắc thì mới thẳng đến đế đô được.

Này các đệ tử!

Lời dạy của người đó có sai lầm hay chăng?

Ai nấy cúi lạy đáp: Chẳng sai.

Bồ Tát bảo: Lại ví như có người muốn lên được dãy núi cao cả vạn nhận, lên đảnh núi chín tầng thì nên dạy kẻ đó như thế nào?

Phải từ thấp lên cao.

Bồ Tát dạy: Ðúng thế.

Cổ nhân bảo:  Ði ngàn dặm bắt đầu từ lúc đặt bàn chân xuống. Cần phải từ nấc thứ nhất tiến lên nấc thứ hai, cho đến nấc cao nhất thì mới là nói đúng. Nếu bảo chỉ cần một bước lên ngay được chỗ cao nhất thì là nói khoác.

Lại ví như có người được vua phong cho làm quan, vua hỏi kẻ ấy:  Ngươi muốn làm tể tướng hay làm chức quan nhỏ?

Người ấy sẽ tâu như thế nào?

Mọi người đáp: Chắc chắn là muốn làm tể tướng.

Bồ Tát bảo: Ðúng vậy.

Lại ví như có người ở nơi đường rẽ chẳng biết theo đường nào.

Có kẻ thương hại đến bảo: Phía bên này thật hiểm trở, thật ngoắt ngoéo, chẳng tiện ra khỏi được, còn phía bên này thật thẳng, thật rộng, thật bằng phẳng, đi theo đường ấy sẽ được thoát ra khỏi.

Người ấy nghe chỉ, đối với hai con đường ấy sẽ đi theo đường nào?

Mọi người đáp: Ði theo đường con đường ngay thẳng, to lớn, đi con đường bằng phẳng.

Bồ Tát bảo:

Hay thay! Hay thay!

Những câu các ông đáp lời ta hỏi đều hợp chánh lý, nhưng các ông có hiểu rõ các thí dụ ta vừa nói đó chăng? 

Mọi người lại làm lễ thưa: Kính xin Bồ Tát khai thị.

Bồ Tát nói: Hãy nghe kỹ.

Từ trước đến nay các ông tuy có tâm cầu đạo nhưng chẳng biết bí quyết tu hành, không biết hướng theo lối nào, giống như người muốn tới Yên Kinh nhưng chẳng biết đường nào là đúng. Nếu gặp phải tà sư dạy cho tà pháp thì giống như đế đô ở phía Bắc lại bảo là hướng về phía Ðông, phía Nam mới đúng.

Do vậy, kẻ ấy trọn ngày tu hành nhưng vẫn bơ vơ không chỗ nương náu, làm sao thân cận đấng Chí Tôn, làm sao thành đại đạo được.

Nay ta bảo các ông cõi Tịnh Ðộ Di Ðà chính là đế đô. Ba thứ Tín, Hạnh, Nguyện càng thêm siêng tinh tấn, rốt cuộc sẽ vãng sanh. Ðó là từ nấc thứ nhất tiến dần tới nấc tối thượng, mong lên được thượng phẩm. Nguyện như vậy thì làm tể tướng, chẳng nguyện như thế thì làm quan nhỏ. Tu hành theo đúng như thế là đi theo con đường to lớn, ngay ngắn, chẳng đi theo con đường cong quẹo vậy.

Ta chính là người đã từng đến Yên Kinh. Nếu các ông chẳng tin tưởng sâu xa vào ta thì chính là bỏ đế đô hướng đến biên địa, bỏ ngôi vị tể tướng cao quý để cầu lấy chức quan nhỏ kém hèn, bỏ con đường to ngay, cầu con đường hiểm trở, rắc rối.

Ðảnh núi cao ngàn nhận, đảnh Tháp chín tầng chẳng phải là chỗ các ông đạt đến được, thật đau xót lắm thay. Ðại chúng tính tậu ruộng để giúp cho việc tu hành.

Bồ Tát bảo: Các ông muốn khuyến khích những người đồng học tụ tập lâu dài chẳng tan rã, muốn tạ tuyệt việc đời, tính kế chẳng phải cầu cơm áo từ nơi người khác nữa nên mới bàn như vậy.

Nhưng ta xem ra: Ý niệm ban đầu tuy tốt, nhưng xét rốt ráo lại chính là trần lao tham luyến, chẳng phải là pháp thanh tịnh.

Vì sao vậy?

Một chén cơm bên đường, tối ngủ nơi gò mả chính là khuôn phép hành đạo của Đức Phật khi trước. Nếu nhất định cần phải nhờ vào ruộng mới tu hành được thì giả như việc ấy không thành bọn các ông sẽ trọn chẳng có một ngày nào tu hành ư. Các ông lại bảo tự mình chẳng có vốn sẽ ra sức tự mộ hóa khuyên người khác đóng góp, như vậy lại càng không được.

Trong một đời giáo pháp của Phật chẳng có hai chữ ấy tức là hai chữ mộ hóa. Ðấy là hành vi của kẻ trong đời mạt, chẳng biết lễ nghĩa, chẳng sợ nhân quả, chẳng biết liêm sỉ. Người tu đạo chân chánh thiết tha lo việc sanh tử, dứt khoát chẳng nghĩ đến chuyện ấy.

Ta lại có một lời bảo các ông: Bọn các ông chỉ nên chấp trì chánh niệm, ai nấy nỗ lực thì chính là chẳng tụ họp mà lại là tụ họp. Còn nếu thân tâm tán loạn, phóng dật, chẳng thường tu hành thì dẫu có tụ tập mà thật ra là tan tác. Chỉ cần hiểu được ý này, cứ nên tùy phận, tùy thời, chẳng cần phải bận tâm tính trước chi cả.

Bồ Tát lại bảo đại chúng: Các ông lo ngại thân mình bị ràng buộc trong lưới rập thế sự, ý niệm chẳng được thanh tịnh ư?

Ta có một pháp: Các ông chỉ cần phát nguyện xa lìa, cầu giải thoát, tâm khăng khăng quy hướng Thế Giới Cực Lạc gặp Phật A Di Ðà, buông bỏ cái tâm bon chen danh lợi liền có thể dứt trần lao, bước trên đường giác.

Có người hỏi niệm Phật chẳng nhất tâm nổi, nên dùng phương cách gì, Bồ Tát dạy: Ông chỉ cần dứt ý tưởng lo cầu đắc định, cứ từ từ niệm, cốt sao tiếng hợp với tâm, tâm nương theo tiếng. Niệm lâu ngày, tự được các niệm lặng trong, tâm cảnh tuyệt chiếu, chứng nhập Niệm Phật Tam Muội. Nhưng thường ngày cần phải niệm cho nhiều, từ ngàn niệm đến vạn niệm. Tâm không gián đoạn thì căn khí mới dễ thành thục nhất. Nếu cưỡng ép tâm chuyên nhất thì trọn chẳng chuyên nhất nổi.

Ngay khi ấy, ông Ðạt Bổn ngồi dưới tòa Bồ Tát chợt niệm lên mấy tiếng. 

Bồ Tát bảo: Như thế đó! Như thế đó!

Các đệ tử muốn tạo tượng cúng dường, thỉnh Bồ Tát hiện bày pháp tướng.

Bồ Tát đáp: Các đệ tử muốn tạo tượng cúng dường, sẵn lòng thành từ lâu, đúng lẽ ta phải hiện bày, nhưng các ông trong trần lao, ta trong diệu minh, nay ta có hiển hiện, các ông cũng chẳng thấy được.

Hơn nữa, ta tùy cơ cảm hóa, thân tướng bất nhất. Nay chỉ căn cứ vào gốc gác khởi tu, các ông có thể vẽ ta dưới hình dạng một vị đại Tỳ Kheo, mặt như trăng tròn, hình thể khôi ngô, đắp ca sa, ngồi trên hoa sen, tay trái úp trên gối, tay phải trong tư thế thuyết pháp.

Giữa hai mày phóng ánh sáng bạch hào, trong quang minh ấy có đức A Di Ðà Phật ngồi xếp bằng. Cần phải vẽ tướng hảo trang nghiêm, chẳng được vẽ sơ sài.

Mọi người nghe xong, liền chắp tay đứng suy tưởng pháp tướng như thế.

Bồ Tát bèn nói: Này các đệ tử!

Ai ai cũng có giác minh diệu hạnh, chẳng ở ngay nơi đây, cũng chẳng rời lìa, tìm nó ngay nơi các ông, đừng chấp vào đâu cả. Giác minh diệu hạnh luôn xuất hiện trong mỗi thời. Nay các ông đã minh bạch thì chẳng cần phải tạo tượng cúng dường, nguyện có ngày sẽ được gặp ta.

Ông Tra Ðịnh Hoằng làm đám ma cho con mình xong, muốn bỏ nhà Xuất Gia.

Bồ Tát dạy: Ông chớ nghĩ đến điều ấy. Ðiều ấy ông làm không nổi.

Ông chỉ cần chánh tâm để trị tâm, chánh thân để trị thân, dứt việc vô ích, tuyệt giao bạn bè vô ích, quy tâm về Ðại Giác, nguyện thoát khỏi đường mê, rót con sóng lớn để thấm nhuần cõi đất khô khan của chính mình, siêng cầu gia bị, diệt các chướng duyên. Ông tính cầu thọ để giữ gìn tấm thân thì nên dốc sức vào chuyện đó, đừng nói nhiều.

Ông Ðịnh Hoằng lại hỏi là ông phụng trì Kinh Kim Cang, nhưng câu chữ trong các bản lưu hành chẳng giống nhau, nên tuân theo bản nào để khỏi bị lầm lẫn?

Bồ Tát bảo: Bảy chữ Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật trọn không lầm lẫn. Ông Trầm Thiên Vũ mắc bệnh, bày lễ cầu Bồ Tát chỉ dạy.

Bồ Tát bảo: Ông nay mắc bệnh vẫn còn chưa chết thì nên dứt mọi buộc ràng, an tâm đoan tọa, niệm thân vô thường, niệm thế vô thường. Tất cả vọng duyên buông bỏ xuống hết, từ từ niệm một câu A Di Ðà Phật, tự nhiên lục trần chẳng sanh, nhất tâm thanh tịnh thì chẳng những lành được căn bệnh trong đời này mà căn bệnh sanh tử cũng nhờ đó được dứt khỏi.

Nay ông bày lễ xin chỉ dạy, chẳng qua chỉ mong ta có phương thuốc thật hay dành cho ông hoặc sẽ truyền khẩu quyết trị lành bệnh cho ông. Ông nào có biết là Bồ Tát không hề có những pháp hư ngụy như thế, chỉ có đôi lời thành thật này dạy ông mà thôi. Ông nếu tin tưởng làm theo thì đó thật sự là một thang thuốc thượng phẩm, linh đan diệu được.

Ta truyền cho ông bài kệ sau đây:

Bệnh tự mình sanh ra

Cũng do mình chữa dứt

Gìn giữ tâm thanh tịnh

Thường sẽ được an vui

Bền lòng chẳng tham luyến

Sẽ giống Vô Lượng Thọ

Bồ Tát dạy ông Ðạt Bổn: Ông muốn tỏ thấu rốt ráo cái tâm, thật là có chí, nhưng ông ôm cả một bụng châu sa, chì, thủy hỏa, những chuyện như bổn lai diện mục, chân không, chân tịnh… thực chẳng biết gì thì làm sao làm được?

Ông nên đem cái mớ đó ném ra ngoài biển Ðông mới được. Nếu không thì uổng cả tâm trí, lầm lạc công phu. Chẳng bằng đích đích xác xác niệm một câu A Di Ðà Phật. Minh tâm cũng bởi đấy, vãng sanh Cực Lạc cũng do đấy, nhất cử lưỡng tiện, thật là hết sức tiện lợi. 

Ông Vô Hủ hỏi: Làm thế nào để báo đáp Tổ phụ?

Bồ Tát hỏi: Thế gian nghĩ thế nào là hiếu bậc nhất?

Thưa: Cung kính, phụng dưỡng, làm lành, chẳng quên ân đức tổ tiên.

Bồ Tát dạy: Ðấy tuy là hiếu nhưng còn hữu hạn. Chỉ nên phát đại nguyện, tu pháp xuất thế. Nếu như đạo thành quả mãn thì phước chẳng những ảnh hưởng đến chín đời tổ tiên mà kẻ oán người thân trong bao kiếp cũng nhờ đó được giải thoát. Ông nếu có thể chuyên tu Tịnh Ðộ thì là đại hiếu vậy.

Ông Ðịnh Mậu hỏi: Trì Chú như thế nào để minh tâm, thế nào là Trì Chú rốt ráo?

Bồ Tát dạy: Tâm chẳng lìa chú, chú chẳng rời tâm, ấy là ý nghĩa của Trì Chú.

Trong tất cả thời ông nên quán sát bản thể của chú và bản thể của tâm ông là một hay là hai?

Nếu bảo là hai, làm sao tâm trì được chú, chú hiển lộ được tâm?

Nếu bảo là một thì tại sao hễ quên thì không có chú, hễ nhớ lại có chú. Do vậy, biết là chú này cùng tâm lìa các danh tướng, rốt ráo không tịch. Ðó gọi là rốt ráo.

Nếu chỉ trì mà chẳng rốt ráo thì chẳng có diệu giải, làm sao hiển phát được đại trí huệ bình đẳng?

Ðại trí huệ bình đẳng chẳng hiện thì biết nhờ đâu để soi tỏ hôn mê sanh tử, đạt được thật tế của tam giới?

Ông Ðạt Bổn hỏi: Mỗi lần con niệm Phật ra tiếng là dễ nổi nóng, con có nên thầm niệm hay không?

Bồ Tát nói: Ông nói niệm Phật một tiếng là nổi nóng.

Vậy sao ông suốt ngày trò chuyện cùng người khác chẳng nổi nóng chút nào?

Ông nên biết rằng sự nóng giận đó chính là vô minh phiền não của ông từ bao kiếp tích tụ lại. Do ngày nay ông tin chưa chân thật nên lửa nóng giận theo câu niệm mà sanh, lửa nóng giận theo vọng niệm sanh ra thiêu đốt Pháp Thân huệ mạng của ông.

Xưa kia, Đức Mâu Ni Thế Tôn vì đại pháp trong vô lượng kiếp xả thân cầu đạo nên mới thành đấng Vô Thượng Bảo Vương.

Nay ông tuổi tác, sức lực đã suy, sáng tối siêng năng tu hành còn sợ chậm trễ, lẽ đâu vẫn luyến tiếc trần lao, mong cầu linh đan, diệu dược hòng được sống lâu tăng thọ?

Ông chẳng nghe cõi Trời Phi Phi Tưởng còn có lúc báo tận, kiếp hỏa cháy rụi hư hoại đến tận cõi Tam Thiền, huống hồ là khăng khăng bám vào pháp thủy, hỏa, châu sa, thủy ngân giả duyên hòa hợp hòng cầu vĩnh viễn chẳng bị biến diệt ư?

Ông nay nghe lời ta nói như người ngủ mơ mới thức dậy, như người say mới tỉnh, phải siêng tu Tịnh Ðộ, chánh niệm Vãng Sanh.

Trong Thế Giới ấy, thọ mạng vô cùng vô tận, thành tựu Pháp Thân, đắc nhất thiết trí, nào có phải giống như là thuật trường sanh thô thiển ta thường thấy, thường bàn luận hằng ngày đâu?

Ông Tra Ðịnh Hoằng hỏi: Lúc Trì Chú, con hay sanh sợ hãi, xin Bồ Tát dạy cho.

Bồ Tát nói: Ai đến dọa ông?

Ai là kẻ sợ hãi?

Do tập khí bất tịnh trong đời quá khứ của ông nên từ trong ý tưởng nhỏ nhiệm chợt hiện ra những tướng trạng ấy. Ông chỉ nên tinh thành trì tụng, tự nó sẽ trừ diệt, được việc lành tùy thuận như ý, dẹp được phiền não, tạo nhập huyền vi, còn sợ hãi chi. Ông Trần Ðịnh Dục vì mẹ bị bệnh nên đến cầu đảo, hỏi nên làm công đức gì để mẹ được lành hẳn.

Bồ Tát dạy cho bài kệ như sau:

Hiếu đứng đầu muôn đức

Quý nhất trong tam tài

Lớn lao thay hiếu hạnh

Là thầy của loài người

Ông vì lòng hiếu hạnh

Cầu mẹ được bệnh lành

Ông đang lúc vui sướng

Nghĩ nhớ mẹ đớn đau

Ông dùng thức ăn ngon

Nhớ mẹ ăn không nổi

Ông mặc áo mịn mềm

Nhớ mẹ thân máu mủ

Dơ bẩn cả áo chăn

Lộ bày cả hông ngực.

Thường nghĩ suy như thế

Sáng tối chẳng hề quên

Quy mạng đức Ðại Thánh

Tinh thành chẳng nhị tâm

Tận lực làm việc thiện

Hầu báo đáp tứ ân

Nguyện mẹ được thêm phước

Nguyện mẹ tăng tuổi thọ

Nguyện bệnh mẹ được lành

Nguyện mẹ thân mạnh khỏe

Ðức Bồ Tát Giác Minh

Là đấng ông dựa nương

Chỉ làm đúng lời ta

Không nguyện chi chẳng thỏa.

Ông Ðịnh Mậu muốn bỏ Trì Chú để niệm Phật nên thưa hỏi.

Bồ Tát dạy: Ông muốn bỏ Trì Chú để niệm Phật, nhất chí chuyên tu rất tốt, nhưng ông chưa biết pháp yếu, chỉ đáng gọi là người hiền lành trì trai, chưa đáng gọi là người niệm Phật.

Vì sao vậy?

Muốn vượt biển cả phải sắm thuyền to. Muốn đi ngàn dặm phải chọn ngựa hay.

Bởi vậy, người niệm Phật phải có thủ đoạn lớn: Cắt đứt mọi trói buộc, xé toang lưới trần, ngay cái niệm này chính là Phật, ngay Đức Phật là tâm tức niệm thị Phật, tức Phật thị tâm, cho đến lìa cả cái tức lẫn cái phi đó, đốn nhập Như Lai Ðại Quang Minh Tạng. Như vậy mới gọi là chánh niệm niệm Phật, mới đáng gọi là người niệm Phật. Ông phải khéo hiểu nghĩa này.

Có bốn vị tăng nhỏ tuổi đến yết kiến Bồ Tát.

Ngài dạy: Các chàng trai trẻ.

Chúng sanh từ vô thỉ đến nay do ân ái nên thành quyến thuộc. Trong quyến thuộc, cha mẹ có ân nặng nhất đối với con cái, yêu mến thiết tha nhất, khó cắt đứt, khó buông bỏ nổi. Nay các ông Xuất Gia lìa tục, được làm Tỳ Kheo thì nên biết là cha mẹ lại có ân càng sâu nặng hơn nữa đối với các ông, chẳng thể dùng lời lẽ nào để ví dụ được nổi.

Vì vậy, các ông phải tận dụng lúc tuổi trẻ, sức mạnh này để siêng tu đạo nghiệp hòng báo đáp tấm lòng cha mẹ đau đớn cắt ân đoạn ái lúc ban đầu thì mới chẳng thẹn cho hai chữ Xuất Gia. Nếu lại phóng dật, biếng nhác đến nỗi suốt đời đọa lạc thì là gã bất hiếu nhất trong những kẻ bất hiếu, làm kẻ tội nặng nhất trong vòng Trời đất. Phải nên đau đáu nghĩ nhớ lời ta dạy.

Bồ Tát lại dạy đại chúng rằng: Này các đệ tử!

Một thân người do cha mẹ sanh ra, cha mẹ nuôi nấng. Ðối với mọi việc làm ăn, các thứ thọ dụng hiện tại của các ông dẫu cho cha mẹ chưa từng cho ông được đồng nào, nhưng thân các ông vẫn là do cha mẹ sanh ra nên mới có được như ngày nay.

Trong muôn sự, thân là lớn, thân là gốc.

Cứ từ gốc mà suy, chẳng phải là ân cha mẹ khó nói hết được hay chăng?

Vì thế Phật dạy: Ở bên cha mẹ nói lớn tiếng, nói nặng lời còn mắc vô lượng tội, huống hồ là ngày nay có kẻ còn tệ quá hơn thế nữa. Nếu bảo là chẳng nhịn nổi cha mẹ, không thể không tranh cãi thì xem cha mẹ có khác chi người ngoài đường.

Chỉ nên vui vẻ thuận theo, cha mẹ ắt có ngày cảm động, quyết chẳng nên tranh cãi rằng cha mẹ sai, mình đúng, làm kẻ trái Trời nghịch người.

Bồ Tát nói: Này các đệ tử!

Nên biết rằng mười phương Chư Phật là tâm chúng sanh, mười phương chúng sanh là tâm Chư Phật. Vì vậy, nhớ Phật, niệm Phật chính là mười phương Chư Phật hiện trong tâm các ông, nhưng cũng chẳng phải là mười phương Chư Phật vào trong tâm các ông, cũng chẳng phải là tâm các ông rời khỏi Chư Phật. Ðấy đều là giác diệu bổn minh chẳng thể nghĩ bàn.

Bồ Tát nói: Tâm hành xứ diệt là chân tâm thường trụ của Chư Phật. Tâm hành xứ hữu là nghiệp tâm sanh tử của chúng sanh, chẳng có kẽ hở bằng tơ tóc. Nếu các ông có thể miên mật gia công, khiến cho cái tâm này không chút hở trống thì mới được tương ưng đôi chút. Ðừng tu sơ sài nửa năm, mười tháng rồi tự cho là mình đã khổ tâm tu đạo, chẳng biết rằng đấy chính là điều chướng đạo, cần phải dè chừng.

Hơn nữa, dẫu gia công tu tập mạnh mẽ nhưng nếu chưa đạt đến mức như tường đồng, vách sắt, đẩy chẳng đổ, dời chẳng lay thì vẫn chưa tạo thành một phiến nhất tâm, chớ nên thấy có chút ảnh hưởng đã ngừng tay. Ấy là nửa đường bỏ dở, đến nỗi phí hết công lao khi trước, chẳng lợi ích mảy may.

Ðây chính là căn bệnh lớn của người học đạo, các ông chẳng nên không biết.

Cần phải biết rằng: Phật Pháp như biển cả, càng vào bên trong càng thấy sâu, dứt khoát chẳng thể dùng chút tri kiến nhỏ nhoi hòng lãnh hội được hết nổi. Phải tu tập suốt đời, gắng hết sức tu tập, đừng nghĩ là dễ dàng.

Bồ Tát nói: Niệm Phật Tam Muội là từ đại thế lực nơi tâm ông tạo thành chứ chẳng phải là do cái khác mà có. Nay các ông niệm Phật suốt ngày đêm vẫn chẳng được nhất tâm, loạn tưởng vẫn còn cách trở chân tâm đều là vì chưa tận lực dụng tâm.

Ông Cố Ðịnh Thành xin Bồ Tát chỉ dạy, Ngài bảo: Ông đến am này muốn tu tịnh nghiệp, có biết làm sao để được vãng sanh Cực Lạc không?

Ðáp: Niệm Phật Vãng Sanh.

Bồ Tát hỏi: Ông biết niệm Phật thế nào để được Vãng Sanh chăng?

Ðịnh Thành đáp: Chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn.

Bồ Tát hỏi: Thế nào là nhất tâm bất loạn?

Ðịnh Thành chẳng đáp được.

Bồ Tát dạy: Ta thấy ông chỉ nói giỏi chứ chưa thể tu hành đúng pháp. Ông nên lắng nghe lời ta nói.

Này Thiện Nam Tử!

Tâm vốn vô niệm, hễ niệm thì tưởng sanh. Tưởng ấy hư vọng, lưu chuyển sanh tử.

Nay ông nên biết: Một câu A Di Ðà Phật đây chẳng từ tưởng sanh, chẳng từ niệm có, chẳng trụ vào trong hay ngoài, chẳng có tướng mạo thì các vọng tưởng chấm dứt. Thân thanh tịnh vi diệu chân thật của Như Lai chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng thể phân biệt.

Niệm như thế thì phiền não trần lao liền chẳng đoạn, chẳng trói, chỉ là nhất tâm. Phải đạt nhất tâm mới gọi là chấp trì danh hiệu, mới gọi là nhất tâm bất loạn, tịnh nghiệp thành tựu, chứng ngay vào thượng phẩm.

Ông ÐịnhThành lại làm lễ, thưa: Phàm phu đời trược tâm trí cạn cợt, kém cỏi, chưa thể thâm đạt chí lý, xin Ngài dạy rõ cho.

Bồ Tát nói: Ông nay nên phát đại nguyện, nguyện sanh về Cực Lạc. Sau đó, chí thành khẩn thiết xưng niệm A Di Ðà Phật sao cho tiếng niệm duyên theo tâm, tâm duyên theo tiếng, tiếng và tâm nương dựa lẫn nhau như mèo rình chuột, lâu ngày chẳng mất thì nhập chánh ức niệm tam muội.

Lại phải tiến thêm bước nữa, nên học hỏi với mọi hạng tri thức, học cao hiểu rộng, tự ngộ chân lý mầu nhiệm tâm này chính là Phật. Ông nay nên đầy đủ lòng tin sâu xa, đừng bắt chước hạng ngu tối nghe rồi chẳng tin, cũng đừng học theo bọn nửa chân, nửa giả, nửa tin, nửa ngờ, tuy mang tiếng lãnh thọ nhưng chẳng có tâm phụng hành chân thành.

Bồ Tát bảo bà mẹ ông Tra: Sao bà chẳng siêng năng niệm Phật?

Ðáp: Do tôi có thêm con cháu, thường hay ẵm bồng, sợ mình bất tịnh.

Bồ Tát dạy: Bà nghĩ mình bất tịnh niệm Phật sợ bị mắc tội chứ chẳng biết không niệm Phật mang tội vô lượng. Ðừng ngại tịnh hay chẳng tịnh, chỉ cứ niệm mà thôi.

Ông Trần Vĩnh Thọ hỏi về kết cục, Bồ Tát dạy cho bài kệ:

Tiết dục, tránh sân,

Là phép giữ thân

Thâu liễm an tịnh

Là phép giữ nhà

Cưới xin tùy sức

Là cách bớt việc

Làm lành niệm Phật

Là pháp xuất thế

Giữ bốn pháp ấy

Kết cục thông đạt.

Ông Cố Thiện Ký hỏi việc chung thân và cách thức làm lành, Bồ Tát dạy: Nếu ông giữ được tâm chánh đáng, làm việc chánh đáng thì sẽ được chung thân chánh đáng. Nếu ông ôm lòng tà, làm việc tà, ắt bị tà chung thân. Còn với một chữ thiện thì tùy thời, tùy chốn mà làm. Việc lớn, việc nhỏ đều được.

Cũng nên tránh giết chóc, phải phóng sanh, tùy sức giúp kẻ nghèo, giúp người khổ, trì niệm A Di Ðà Phật, hồi hướng Cực Lạc. Ngày ngày làm như thế chẳng gián đoạn, suốt cả ba năm chẳng thay đổi thì ông mới xứng đáng với bốn chữ hảo tâm hành thiện.

Bồ Tát dạy ông Vô Hủ: Ðại để người tu Tịnh Nghiệp đi, đứng, nằm, ngồi, đứng lên, ngồi xuống, ăn uống đều nên hướng về phương Tây thì sự cơ cảm dễ thành, căn cảnh dễ thuần thục.

Trong thất chỉ bày một tượng Phật, một quyển Kinh, một lò hương, một cái bàn, một cái giường, một cái ghế, chẳng được bày nhiều thứ khác. Trên sân cũng quét dọn thanh tịnh để đi Kinh Hành không trở ngại gì.

Cần giữ cho tâm này chẳng vướng bận mảy may gì, quên hết muôn mối lo, trống rỗng, chẳng biết có thân, chẳng hay có đời, cũng chẳng biết việc mình đang làm ngày nay là việc tu hành. Ðược vậy thì ngày càng gần với đạo, ngày càng cách xa đời, mới xu hướng Tịnh Nghiệp được.

Lúc bình thời ông đã có thể buông bỏ sạch hết thảy sự, trong ý niệm chẳng còn chút vướng mắc nào thì khi đại hạn xảy đến, thanh thản, thảnh thơi, chẳng có ý tưởng lưu luyến con cái, nuối tiếc tấm thân, con cháu, há chẳng phải là hành vi của bậc đại trượng phu ư?

***