Khi minh taâm kieán taùnh roài
Thöù gì cuõng thoâng suoát töôøng taän khoâng caàn phaûi hoïc

caotang.vn

TÂY PHƯƠNG XÁC CHỈ - PHẦN BA

TÂY PHƯƠNG XÁC CHỈ

Giảng giải: Bồ Tát Giác Minh Diệu Hạnh

Kết tập: Cư Sĩ Thường Nhiếp
 

PHẦN BA
 

Bởi vậy, ông nên nhất ý tu hành, chẳng còn dính mắc điều gì khác nữa. Ðó chính là điều then chốt nhất.

Còn như cách thức Tịnh tu thì chẳng ngoài hai chữ chuyên cần. Chuyên là chẳng làm chuyện gì khác. Cần chẳng bỏ uổng lúc nào.

Nay ông sáng dậy liền tụng một quyển Kinh Di Ðà, trì một ngàn câu A Di Ðà Phật, đối trước Phật hồi hướng, niệm bài Nhất Tâm Quy Mạng xin xem phụ lục vì bài này lời lẽ giản dị nhưng ý nghĩa súc tích. Ðấy chính là công khóa trong một thời.

Nếu như lúc sơ khởi nếu thân tâm còn chưa yên thì mỗi ngày chỉ hành trì bốn thời.

Ðã hơi yên thì dần dần tăng đến sáu thời, lại tăng dần đến mười hai thời: Tụng được mười hai quyển Kinh, niệm danh hiệu Phật một vạn hai ngàn tiếng. Trong lúc hồi hướng lại lễ Phật trăm lạy, cũng có thể chia làm bốn thời. Ðấy là thường khóa mỗi ngày. Những lúc khác chẳng cần tính vô số ấy. Dù niệm thầm hay niệm ra tiếng đều phải nhiếp tâm niệm chắc chắn mà thôi.

Hơn nữa, trong pháp trì danh, cần phải mỗi câu mỗi chữ, tâm và tiếng phải nương theo nhau, chẳng được xen tạp mảy may ý niệm thế tục. Lâu ngày thành thục, quyết định được vãng sanh Cực Lạc, ngồi trên hoa sen báu, đạt lên địa vị Bất Thối.

Nếu năm tháng tuổi già chưa hết, do ông đã chứng đắc như thế, ông sẽ dạy dỗ đại chúng hòng báo ân sâu của Phật. Nếu ông có thể nhất nhất tuân thủ lời ta thì mới chẳng phụ công Giác Minh Bồ Tát dạy ông chánh đạo, khiến cho ông Xuất Gia đã chẳng phụ công Hòa Thượng Tam Muội thế độ, truyền cho ông đại giới.

Ðây thật chẳng phải là nhân duyên nhỏ nhoi, ông chớ nên tự sanh lòng khinh mạn, cẩn thận, cẩn thận.

Bồ Tát dạy ông Thường Nhiếp: Ông tính trì tụng Thần Chú Ðại Bi, cầu Đức Quán Âm thầm gia hộ cho mau được nhập đạo.

Rất tốt!

Nhưng ông chẳng được chần chừ đến nỗi chí nguyện lẫn sự nghiệp chẳng thành. Cần phải làm ngay đi, cứ thẳng đường mà tiến.

Ông nay nên tự ấn định thời hạn, định mức số câu, thời khóa, dứt tuyệt việc đời, ở yên trong một thất. Mỗi một thời tụng chú trăm lần và lạy một lần Ðại Bi Sám Pháp do Ngài Tứ Minh soạn để sám hối nghiệp chướng hầu giúp phát khởi công hạnh thù thắng. Ðó là một thời.

Một ngày một đêm chia thành sáu thời: Năm thời Trì Chú, một thời lễ sám.

Các thời khác an tọa tu Thiền, thâm nhập bất tư nghị huệ.

Vì sao gọi là bất tư nghị huệ?

Hiểu trọn vẹn rằng ngoài tâm không pháp, các pháp chẳng có tên, thấu đạt không có mảy may gì được thành lập cả. Nhất niệm viên dung, chẳng thể suy nghĩ nổi, chẳng thể bàn luận nổi nên gọi là bất tư nghị huệ.

Nương vào diệu huệ đó thì tâm gom vào nơi vi tế, nhiếp vô nhiếp tướng, nghĩa là chẳng thâu nhiếp gì hết, nhưng chẳng trở ngại gì đến nhiếp cả thì gọi là khéo nhiếp tâm. Do tâm đã được thâu nhiếp nên không việc gì chẳng hoàn thành.

Nói tóm lại, không có lúc nào không hiện hữu nhưng luôn nhập vào tâm, ấy là cái gốc của việc Trì Chú nhiếp tâm. Tự nhiên túc chướng băng tiêu, định tâm hiển hiện rỡ ràng hoặc là được tam muội khai phát, khế hợp diệu tâm sẵn có. Chẳng để uổng phí năm tháng, nên khắc định kỳ hạn để tấn tu đạo nghiệp.

Nếu không thì hôm nay, ngày mai, năm tới, tháng sau hoặc làm hoặc chẳng làm, muốn tiến chẳng tiến, bảo đảm cả trăm năm sau ông vẫn giậm chân tại chỗ, trọn chẳng thể dời nổi một bước.

Cẩn thận!

Gắng lên!

Bồ Tát lại dạy ông Thường Nhiếp: Chỉ tám chữ cưỡng thuận nhân tình gắng gỏi việc đời khiến ông lầm lạc đại sự cả một đời người. Từ ngày nay trở đi, quyết chẳng nên trì kéo, nắm níu, bon chen như trước nữa. Ðạo nghiệp chưa thành, vô thường đã xộc tới.

Gấp nên thu hình ẩn tích, nhất tâm hướng về đạo, chẳng nên lầm lạc nữa.

Ông Ðạt Bổn tuân lời dạy, Xuất Gia, Bồ Tát dạy: Ông tuổi già Xuất Gia chẳng được học lan man nhiều sự khác, chỉ Tụng Kinh Di Ðà, nhật khóa niệm Phật một vạn hai ngàn câu, từ ít tăng dần lên nhiều, chân thành thiết tha cầu sanh về Cực Lạc. Ðấy chính là cách chỉ hoàn thành được một việc mà trăm sự đều ổn thỏa.

Ðừng bắt chước kẻ ngu trong đời cao đàm khoát luận, bàn tánh luận tâm, thấy người niệm Phật liền nhất loạt dè bỉu, chê bai công hạnh của người ấy chẳng bằng gã mù chữ trong thôn ba nhà hay kẻ ăn mày niệm Kinh Tam Quan nơi ngã tư đường, uổng cả thời gian, lầm lẫn đại sự.

Vì thường ngày ông ưa bàn Thiền mà chẳng thấu đạt điểm trọng yếu, mầu nhiệm của Thiền, cũng chẳng thể tin sâu Tịnh Ðộ, ròng chắc niệm Phật nên ta mới dạy như vậy.

Bồ Tát lại dạy ông Vô Hủ: Tụng mười hai quyển kinh Di Ðà, niệm danh hiệu Phật một vạn hai ngàn biến chẳng tăng, chẳng giảm, cứ hành theo đúng lời ta dạy. Nhưng khi Tụng Kinh phải đều đặn, bình tịnh, đừng hoãn đãi, đừng gấp gáp, chẳng nhanh, chẳng chậm. Niệm Phật cần phải từng tiếng ứng theo tâm, chẳng thô tháp, chẳng lao chao, chẳng hư phù, chẳng trầm trệ mà niệm.

Ðến lúc hồi hướng, chẳng phải là tụng bản văn Hồi Hướng một lượt là xong, mà phải từ trong tâm mình phát ra lời nguyện Ðại Bồ Ðề chân chánh, chí thành khẩn thiết, nguyện khắp hết thảy chúng sanh cùng vãng sanh Cực Lạc, nhưng tâm mình chẳng chấp trước hệt như hư không. Ðấy gọi là hồi hướng.

Lại khi tịnh tọa, nên phản quán thâm cứu: Phật chính là tâm ta, tâm này là Phật, chẳng cần phải cầu tự bên ngoài, đúng như tâm mà trụ, không năng, không sở. Quán sát đúng đắn, chắc chắn như thế không còn có niệm khác thì gọi là tu hành tam muội. Cẩn thận chớ quên mình, tâm nguội lạnh như đã chết, kẻo lại lạc vào tri kiến của ma tà ngoại đạo. Ngồi tịnh tọa một thời như vậy xong liền đứng dậy đi kinh hành, rồi lại trì tụng.

Nếu cứ gấp gấp gáp gáp làm liền một hơi, dẫu hoàn tất khóa tụng của một ngày nhưng rốt cục thành ra tụng niệm cẩu thả, chẳng phải là tu hành chân chánh vậy. Ðại để, người học đạo chẳng tuân lời tri thức răn dạy, quyết sẽ nhọc nhằn nhưng vẫn vô ích, chưa được lâu đã nản.

Cẩn thận, cẩn thận!

Thêm nữa, đối với những thứ chánh báo, y báo trang nghiêm cõi Tịnh Ðộ được giảng trong các kinh, ông phải giảng, tụng minh bạch. Giả sử lúc tịnh tọa hoặc kinh hành hoặc khi lễ tụng, nếu như Tịnh Ðộ hiện tiền thì hiểu biết rành rẽ, chẳng bị dị cảnh mê hoặc.

Bồ Tát dạy ông Trần Ðại Tâm: Ðạo niệm của ông dẫu tăng, nhưng thế niệm vẫn chẳng giảm. Phàm hết thảy tướng nhân ngã, tướng danh lợi, tướng sân hỷ v.v… trong thế gian chẳng phải chỉ phát xuất từ nơi thân, mà nó phát xuất từ lưới trần dằng dặc từ trước. Hễ tâm vướng mắc đôi chút liền tạo thành nhân duyên chướng đạo. Ông cần phải hiểu rõ như thế.

Ông chỉ cần thân lễ A Di Ðà Phật, miệng tụng A Di Ðà, tâm niệm A Di Ðà, chẳng hề có chút mảy may phân biệt liền sạch làu trần cấu, xé nát lưới trần, sanh về cõi Cực Lạc. Ông cần phải hiểu minh bạch như thế.

Có kẻ hỏi việc chung thân, Bồ Tát dạy: Ông hỏi việc chung thân ư?

Ta đây trọn chẳng có pháp chung thân vì lúc ta học Bồ Tát đạo, trải bao kiếp tu hành chưa từng học được việc ấy.

Nhưng mà ông ngu si quá, chung thân chẳng qua là như thế đó, hỏi người khác ích gì?

Sao ông chẳng hỏi đầu bạc cả rồi, mặt nhăn nhúm rồi, thân đã yếu rồi, vô thường rồi sẽ xảy đến, sẽ phải đến gặp mặt Diêm La đại vương thì nên kiếm một lời hay nửa câu nào đối đáp để tránh khỏi bị gông cùm nghiệp trói?

Sao ông chẳng hỏi sự ấy?

Tăng Pháp Duyên muốn kết định kỳ hạn lễ Di Ðà Sám. Trước tiên, ông đến thỉnh ý Bồ Tát.

Ngài dạy: Di Ðà Sám là do Ngài Từ Vân Sám Chủ soạn mới đây đều đủ lý nhất tâm, sự nhất tâm, chuyên nhất vào một sự.

Nếu bốn tướng nhân tướng, chúng sanh tướng, ngã tướng, thọ giả tướng chẳng sanh, lặng trong như hư không thì gọi là lý nhất tâm. Nhất tâm ấy khó đạt. Ngoài phải siêng tu tập sám pháp để trừ túc chướng, trong phải theo đúng lý tu quán hầu đạt đến nhất tâm.

Ðã được nhất tâm lo chi chẳng nhập được đạo?

Trong kỳ hạn tu sám, ông chớ quản thân mình hay vì thí chủ, cũng chẳng quản là lâu dài hay chẳng lâu dài, chỉ cốt quét sạch tập khí, tẩy sạch thân tâm. Chẳng thành tam muội thề chẳng ngơi nghỉ mới được.

Thêm nữa, tuy ông theo thứ lớp trong pháp sám ấy tu tập nhưng vẫn chưa phải là tu hành. Nếu chân chánh tu hành thì phải buông bỏ vạn duyên, một bát sống nhờ thập phương, một thân nương nhờ khắp cõi đất, chân thành thiết tha cầu thoát sanh tử, đấy mới là cách tu hành chân chánh.

Nếu cứ khăng khăng đôi ba kỳ hạn sám hối, xong rồi vẫn bon chen việc đời mà muốn thành Tịnh Nghiệp, thoát khỏi sanh tử thì chẳng khác nào hút gió nuốt sương lại mong no đủ. Trên đời chẳng hề có việc ấy. Ông chớ khởi ý tưởng ngu si như thế đến nỗi đói rét mà chết.

Vương sư chỉ quân binh nhà Thanh kéo xuống đất Tam Ngô, bọn giặc vùng Thái Hồ nổi dậy chiếm thành rồi lại rút chạy. Lâu ngày mới yên ổn trở lại, mọi người mới dần dần tụ tập về.

Bồ Tát dạy: Sau cơn biến loạn ngày mười ba tháng Sáu, mọi người có sợ hãi không?

Các ông nên biết: Ðấy đều là do từ vô thỉ kiếp đến naychẳng thể tu thiện, tạo đủ ác nghiệp cho nên đời đời kiếp kiếp chẳng thoát nổi tai họa này.

Như thời Lương Vũ Ðế, tám người do chiến tranh nên đều thất lạc hết.

Bây giờ lại gặp binh biến, không chỗ trốn tránh. Ðủ thấy rằng chúng sanh chẳng vượt khỏi ba cõi, đạt vô sanh thì rốt cục khó thoát nổi nhân duyên nghiệp báo dẫu chỉ phân tấc. Các ông may còn chưa chết nhưng cũng đã mắc hiểm nạn lớn. Nghiệp quả ba đời đáng kinh, đáng sợ.

Các ông còn chưa nhất tâm tu đạo, sớm thoát luân hồi, đời sau kiếp khác thật chưa chắc đã được vẹn tròn, biết làm thế nào đây?

Bồ Tát dạy ông Trầm Nguyên Huy: Nói chung, người tu Tịnh Ðộ kỵ nhất là xen tạp.

Thế nào là xen tạp?

Tức là vừa Tụng Kinh, vừa Trì Chú, vừa kết hội, lại ưa nói đôi chút về sự khẩn yếu của Thiền, lại ưa bàn những chuyện cát hung, họa phước, thấy thần, gặp quỉ. Ðấy chính là xen tạp.

Ðã xen tạp thì tâm chẳng chuyên nhất. Tâm chẳng chuyên nhất thì khó thấy Phật vãng sanh, phí uổng cả một đời. Nay ông chớ nên làm như thế, chỉ khẩn thiết trì một câu A Di Ðà Phật, cầu sanh về Cực Lạc. Lâu ngày công hạnh thành tựu, mới là chẳng sai lầm vậy. Ta sẽ truyền cho ông một bài kệ để tuân theo đó mà tu hành.

Một câu A Di Ðà

Là tổng trì vạn pháp

Tiếng niệm ứng theo tâm

Niệm đâu tâm theo đó

Cảm ứng bất tư nghị

Ao bảy báu nở sen.

Bồ Tát dạy ông Ðịnh Khải như sau: Ông đã gặp đại nạn, may thoát khỏi được. Từ rày nên đau đáu nghĩ đến lỗi trước, dứt tai ương về sau, không còn bộp chộp tranh hơi, khoái ý đua tài khiến thân mang vạ. Nay ta đặt tên cho ông là Khải.

Khải là gì?

Là Từ, là Nhân. Từ để lập thân, Nhân để giúp người. Công danh có được cũng chẳng vui, có mất cũng chẳng buồn. Chỉ lo vun bồi tâm lành, kiên cố thiện hạnh ngõ hầu đáp tạ tứ ân mà thôi. Có một lúc Bồ Tát giáng lâm pháp hội, có đến hơn ba người chưa dứt khoát tâm nghi, đều đến thưa hỏi.

Bồ Tát thương xót bọn họ: Tuy đều sẵn lòng chí thành nhưng chưa biết đường chánh tu hành, bèn ban lời dạy dỗ. Hội ngộ hôm nay đáng gọi là hữu duyên. Nhưng nếu ta giảng Phật pháp cho các ông, sợ các ông chưa quen nghe, e khó lòng tin hiểu nổi. Chi bằng ta dẫn sách Nho trong đời để trò chuyện, họa may các ông tin được một hay hai câu.

Sách Trung Dung chép: Hoặc vì an ổn mà làm, hoặc vì lợi mà làm, hoặc miễn cưỡng mà làm. Xét lúc này đây, chẳng phải vì lợi hay ổn mà làm thì ắt là miễn cưỡng mà làm, điều ấy cũng chẳng nên.

Tức là các ông sau khi gặp ta, cũng từng đã phát tâm nếu miễn cưỡng làm lành ắt sẽ có ngày bỏ lửng, hoặc dần dần biếng nhác.

Vì sao như thế?

Chỉ vì đối với một chữ thiện xem rất lơi là, cứ nghĩ là làm lành chẳng thấy công hiệu gì, chẳng như làm ác có công hiệu ngay.

Chẳng biết rằng: Nếu làm lành thật chẳng có công dụng gì thì sao bậc Thánh Hiền từ xưa đến nay trọn chẳng làm chút điều ác nào. Còn hành thiện thì tận tâm tận lực làm cho được trọn đủ cả mười hai phần.

Lại như nếu quả thật làm ác có công hiệu thì tự xưa đến nay, hiền nhân quân tử sao chẳng cầu nơi việc có công hiệu, ngược lại, còn thực hiện việc không có tác dụng gì?

Vả lại, hãy xem mấy kẻ làm ác hiện tại, tuy được sung sướng ngay trước mắt, nhưng rốt cục mấy kẻ được hưởng kết cục tốt lành:

Chết an lành, danh tiếng tốt, con cháu ngoan ngoãn suốt trong nhiều đời.

Lại như mấy đứa bé mới mấy tuổi trong thế gian, hễ thấy nói đến người lành còn biết khen ngợi, há chẳng phải là làm lành ắt được đại lợi ư?

Thấy nói đến kẻ ác, chúng cũng biết căm giận, há chẳng phải làm ác chẳng được đại lợi ư?

Việc này quá dễ hiểu, chẳng phải vì các ông không thông minh nên không hiểu nổi, chỉ vì các ông chẳng thể thật tâm hướng thiện cho nên nhất thời chẳng thể quán sát tỉ mỉ đó thôi.

Bởi vậy, thường ngày hễ bỏ ra một tiền là muốn khoe ngay với người khác hòng được một lời khen ngợi. Muốn khoe ngay với người khác là chỉ làm thiện bề ngoài, chẳng hiểu nổi chỗ dụng tâm khẩn thiết của bậc đại Thánh, đại hiền. Chưa hiểu được ý vị đã buông tay bỏ lửng.

Nếu các ông ngày nay quả thật tấm lòng chân chân thật thật, hành việc chân chân thật thật thì chẳng được khởi lên mảy may vọng tưởng mong mỏi trong khi làm lành, thản nhiên an vui theo mạng Trời, giữ riêng mình biết, chẳng thấy có việc chung thân để cầu, có kết cục để hỏi, chẳng thấy có ngũ hành, bát tự vận mạng cùng quẫn hay thông suốt để bói toán, chẳng thấy có cát hung, được mất để đoạt lấy hay tránh né.

Như thế thì tự nhiên không tai họa nào chẳng tiêu, không phước nào chẳng đến.

Ðạo càng ngày càng tăng, đức càng ngày càng chứa, thành Thánh, thành hiền chẳng khó gì.

Ðấy chính là sự thật tương lai nhất định của các ông nên ta mới đề cập đến sự thành công ấy đó thôi.

Nếu không, lúc sống thì kẻ tiểu nhân chẳng kiêng dè, lúc chết ắt sẽ mục nát cùng cỏ cây, chẳng đáng đau đớn sao?

Bồ Tát dạy lời ấy xong, im lặng mà trụ.

Ðại chúng khi ấy vẫn nghiêm chỉnh chờ đợi, rồi lại có người lễ bái khẩn cầu.

Bồ Tát dạy: Bọn các ông thật là ngu si quá, nghe lời như vậy xong vẫn chẳng sanh lòng mong giữ lấy, sanh ý niệm tự xét lại mình, chỉ mong đem những chuyện con cái, thân mình, gia đình trong lòng ra hỏi cho kỳ được mới thôi. Khổ thay, khổ thay, nhưng Bồ Tát đại từ chẳng tận nên lại sẽ nói đôi câu cổ ngữ để đánh tan cơn si mộng của các ông.

Một là người học đạo hễ tình bất chánh thì tánh bị ly tán, tâm chẳng vững thì đức ắt khuyết, thường thường dè dặt trong từng phút giây nhưng bị biến đổi trong khoảnh khắc. Nếu như thế thì là hạng chẳng thể thành tựu được, khó lòng nhập đạo, nào phải vì Thánh Nhân chẳng chịu dạy người hay Thánh Nhân đã chán mệt nên mình tuyệt phận. Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy nên suy nghĩ.

Hoặc là thiên hạ nào đã hết sạch bậc thông minh hướng thượng, nhưng bị lòng tự phụ vào trình độ hiểu biết ngăn che nên chẳng thành đại khí.

Một khi người ấy đã ỷ mình là đúng thì chẳng thể để tâm rỗng rang quy hướng chánh đạo. Những người mình giao tiếp hằng ngày nhất định toàn là hạng dung tục, tâng bốc lẫn nhau. Hễ trót làm việc gì chẳng thể cam nhận lỗi mình nên đức nghiệp mới nguy ngập. Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy nên suy nghĩ. 

Thế nhân tham muốn có được, ai nấy đều ra sức cưỡng cầu, nào hay hễ đạt được một tiền biết còn có mạng hay chăng?

Cứ thấy công danh, phú quý là bảo do trí lực của mình ắt sẽ đạt được.

Nếu thế thì Trời cao lồng lộng, thần minh rỡ rỡ là vô dụng ư?

Nếu như cứ cưỡng cầu mà được thì mạng số ắt cũng phải cầu được.

Chẳng phải vì các ông nhiều phen vận dụng tâm cơ gấp rút mà Trời sẽ thương xót ban cho. Nếu cứ miễn cưỡng cầu tìm thì sẽ mang nhục, chẳng vinh, bị mất mát, chẳng được gì, sẽ vướng cái họa sát thân, nhọc công mà chẳng lợi ích cho ai cả, mắc tai ương tổn đức, chẳng tăng thêm được phước lành. Trời chán ghét, thần minh bỏ lơi. Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy suy nghĩ lấy.

Ân lớn trong Trời đất không gì hơn được ân cha mẹ. Cha mẹ còn sống là vị Phật đang sống trong nhà. Cha mẹ đã mất vẫn truy báo được.

Thử nghĩ xem thân này là từ đâu mà tới, do ai được trưởng thành?

Sao chẳng phản bổn tầm nguyên, tận tâm, tận lực kính thờ, vâng thuận. Thậm chí có kẻ kết oán với cha mẹ, chẳng đoái hoài gì đến, chỉ chăm chút vợ con, chẳng hiếu dưỡng cha mẹ. Thậm chí, cha mẹ mắc bệnh cũng chẳng hay, chết cũng chẳng chôn. Hoặc là nói một câu là trả miếng một câu tựa như người dưng. Ðấy đều là những hạng chẳng bằng cầm thú vậy.

Than ôi!

Người chẳng bằng nổi cầm thú hay sao?

Ðáng sợ thay.

Những người hiểu biết trong đại chúng đây hãy suy nghĩ lấy.

Có kẻ muốn được làm quan, hỏi Bồ Tát sẽ được thỏa nguyện hay chăng, Bồ Tát dạy: Cái việc làm quan ông đừng mong tưởng.

Ông phải biết rằng: Thông kinh sử là văn, luyện thao lược là võ, sức lực hơn người là dũng, trí năng xuất chúng là tài.

Ông tự lượng xem mình có được một trong những điều ấy hay chăng?

Nếu chẳng có được một điều nào trong bốn điều trên mà muốn làm quan thì bất quá chỉ là hạng gặp may mà thôi.

Nếu là hạng gặp may thì ngay ý niệm ban đầu đã bất chánh. Một khi làm quan ắt sẽ cậy oai cậy thế, lăm lăm bóc lột dân chúng để cốt ấm thân mình, quyết chẳng thể làm điều tốt cho nước cho dân.

Ðến nỗi tích ác ngày càng sâu, chẳng biết cải hối, đời sau nhất định làm thân trâu, ngựa, lạc đà, lừa có sức mạnh để báo đáp người đã nuôi mình. Như các loài súc sanh trong trận chiến tranh vừa rồi đều là hạng tham lộc ham công đời trước, là hạng chẳng có chút công đức gì với thiên hạ cả.

 Nhưng lẽ báo ứng xa gần không kỳ hạn, hoặc là gặp họa ngay trong đời này, hoặc con cháu mắc vạ. Chẳng hạn như bọn người tội phạm bị giam cầm, thân bị cắt xẻo, đâm chém. Con cháu hư hỏng hoặc tuyệt diệt không ai nối dòng là bởi như thế đó.

Lại còn kẻ tổn hại lương dân, đoạt tài sản họ, ấy là vật bất nhân bất nghĩa. Ðem những thứ ấy cúng tế tổ tiên khiến tổ tiên càng nặng tội. Ðem cúng thần minh, thần minh thêm giận. Ðem cúng Chư Phật Thánh hiền, Phật Thánh ứa lệ. Ðem kính phụng người nhân từ có đạo đức khiến họ đâm ra thẹn hổ.

Như vậy là tội ác chưa cùng cực mà oán kết chồng thêm. Ðời sau quyết định sẽ làm loài dê, heo, gà, chó là những loài không có sức mạnh để báo đáp người nuôi mình và hạng người bần cùng, hạ tiện rất khổ trong thế gian.

Hơn nữa, hạng người nhờ may được làm quan ấy dẫu làm việc tốt lành gì cũng chẳng tránh khỏi trong công lẫn tư, trong thiện lẫn ác. Tội phước ảnh hưởng chẳng sót tơ tóc. Tham danh tiếng, vinh hoa hữu hạn để phải chịu ác quả bao đời. Làm quan nhờ may mắn, tâm đắm chìm trong lợi dục.

Những chuyện như vừa nói trên, thế bắt buộc phải vậy, chẳng đáng sợ sao.

Ông Vương Ðịnh Hựu cầu con, Bồ Tát dạy: Ông từ nay đừng giết sanh mạng, đừng ăn thứ những loài vật khác, đừng đa dục, lắm sân hận.

Vì sao thế?

Sát sanh tổn hại đức từ của Trời đất, trái nghịch đạo trưởng dưỡng. Ăn thịt những loài vật khác ắt tăng thêm dâm, uế, hoặc đến nỗi bị bệnh nặng. Ða dục, nhiều sân hận tổn hại thọ mạng rất nhanh, phá vỡ sự bình hòa của nguyên khí, còn phạm vào cấm kỵ của âm dương rất nhiều.

Ông nay nên phải luôn dè dặt giữ gìn ba điều ấy, một lòng phụng dưỡng mẹ già, bố thí, từ ái, giúp người nghèo, cứu người khổ, làm đủ các việc âm đức, tích lũy chẳng bỏ phế thì Trời ắt sẽ ban điều tốt đẹp cho ông.

Bồ Tát dạy ông Lục Ðịnh Tức bài kệ như sau:

Thân cận bậc lão thành

Ðừng quen kẻ ác dại,

Bậc quân tử thượng đạt

Các ông nên cố gắng

Khuyên bảo mẹ tu hành

Ấy chính là đại hiếu

Phải chí thành cung kính

Tuân lời Bồ Tát dạy.

Ngài lại dạy rằng: Ông về nhà, đến bên mẹ thiết thiết tha tha khuyên mẹ chí tâm niệm Phật, cầu sanh Cực Lạc. Nếu mẹ chẳng ăn chay nổi thì đừng miễn cưỡng, chỉ cốt mẹ không sát sanh. Nếu mẹ chịu quy hướng Phật Di Ðà, tự thôi ăn mặn thì đấy là hiếu hạnh bậc nhất trong thế gian. Ông hãy gắng làm thế.

Lúc bấy giờ, duyên ứng hiện của Bồ Tát đã hết, vì thế, Ngài triệu tập các đệ tử, người nào cũng được Bồ Tát dặn dò.

Ngài dạy ông Ðịnh Miễn như sau: Ông tên là Ðịnh Miễn, nên tự hiểu danh hiệu mình. Gắng sức tu hành sẽ tự được khai ngộ Vô Thượng Bồ Ðề, làm bậc thiện tri thức, nối tiếp Phật huệ mạng. Ông đừng tự buông bỏ.

Ông Ðịnh Khai hỏi về yếu chỉ Nhất Tâm Tam Quán, Bồ Tát dạy: Ðiểm mầu nhiệm trong pháp Tam Quán của tông Thiên Thai là ở viên tâm. Nếu biết được viên tâm thì thấu tột được đạo.

Bồ Tát dạy ông Ðịnh Khai cùng Ðịnh Miễn cùng đứng, nhận lấy bài kệ:

Nhất khai thì nhị khai

Kể từ nay trở đi

Hạt giống dòng Bồ Ðề

Ðược hai tay khéo trồng

Ngài dạy ông Thượng Ðức:

Ðầu đã hói

Nên tri túc

Nghĩ vô thường

Ðoạn ái dục.

Nam mô A Di Ðà

Niệm niệm luôn tiếp nối

Bồ Tát dạy ông Nhĩ Chi:

Siêng thì chẳng bệnh

Chẳng siêng sẽ bệnh

Chớ bảo túc nghiệp

Báo ứng rất gần.

Nhiều lần thân cận

Từ phụ Di Ðà

Còn được sống lâu

Huống là hết bệnh.

Bồ Tát dạy ông Trần Ðại Tâm:

Già chẳng dễ chịu

Chết quyết trói buộc,

Xong nợ con cái

Mới hòng sướng vui.

Cực Lạc chẳng xa

Chớ tự cách tuyệt

Bồ Tát dạy ông Trầm Nguyên Huy:

Thẳm sâu chẳng lộ

Mới là trì giới

Nếu lộ ra ngoài

Không lâu ắt bại

Niệm đã chẳng chân

Chẳng được tự tại

Phước, họa, cát hung

Ông phải tự dè.

Bồ Tát dạy ông Ðỗ Nghĩa Kiến:

Thiện chính là nghĩa

Bất thiện bất nghĩa

Nghĩa, thiện chẳng hai

Chỉ thấy cái nghĩa

Vì nghĩa mà thấy

Chẳng thấy phi nghĩa

Lúc thấy phi nghĩa

Thấy vô kiến nghĩa.

Bồ Tát dạy nữ đệ tử Ý An như sau: Vì mắc bệnh mà bà chẳng niệm Phật hay sao?

Ôi chao, bệnh càng nặng càng phải siêng niệm mới tốt chứ.

Nếu đến lúc bệnh nặng quá chẳng niệm nổi thì đã lỡ làng rồi.

Bồ Tát dạy ông Vô Hủ: Báu chi miếng ngọc? 

Phải tiếc tấc bóng

Chánh niệm Di Ðà

Tín quang rạng rỡ

Ðừng tham chuyện cũ

Mất luôn tiền đồ.

Bồ Tát dạy ông Thường Nhiếp:

Có miệng tựa hồ câm

Có tai làm như điếc

Chẳng lẫn lộn với đời

Mới là sùng đạo nghiệp

Ngài dạy ông Thường Nguyên như sau:

Hạnh chớ để biếng nhác

Biếng nhác chẳng là Tăng

Nếu ông tự phế hạnh

Thân mang nhiều hậu họa

Bồ Tát dạy ông Ðịnh Mậu:

Ông là đạo nhân

Phải tịnh tâm mình

Tịnh được cái tâm

Mới hơn người được.

Bồ Tát dạy ông Ðịnh Tùy:

Hạnh ròng chắc là quý

Nhưng vẫn là chưa hay

Nếu chỉ có như thế

Mà đã coi là đủ

Thì Xuất Gia ích gì?

Phải nguyện lìa si não

Nên khởi phát đạo ý

Ðừng để bỏ luống uổng

Bồ Tát dạy ông Tra Ðịnh Hoằng:

Bồ Tát nói kệ

Về bảo mẹ ông

Lúc thường uống ăn

Chóng lo xong việc.

Bồ Tát dạy ông Trần Ðịnh Chuyên:

Mình Trời cao nhất

Không đâu chẳng thấy

Ông giữ sơ tâm

Chớ để giảm ít.

Bồ Tát dạy ông Ðạt Bổn:

Ðạt Bổn vô bổn

Nên dứt vạn duyên

Chỗ nào chẳng yên?

Bởi thế, gấp gấp.

Một mai xuôi tay

Trai cày, gái dệt,

Hồi tưởng sanh tiền

Ông sẽ khóc lóc.

Bồ Tát dạy từng người xong, lại bảo đại chúng rằng: Từ lúc ta giáng cơ đến nay, những lời ta nói ra đều là những điều yếu diệu để tu hành. Các ngươi phải luôn luôn thể hội, cực lực tuân hành thì nhất định sanh về thượng phẩm. Từ nay Bồ Tát sẽ chẳng giáng đàn nữa. Các đệ tử ai nấy phải nỗ lực, đừng để lỡ dịp này.

Khi ấy, các đệ tử nghe lời Bồ Tát dạy đều khóc lóc buồn tiếc, chẳng ngửa nhìn lên nổi.

Bồ Tát bảo: Này các đệ tử!

Các ông cho rằng nếu Bồ Tát chẳng giáng lâm nữa, e rằng mình sẽ đâm ra biếng nhác, vì đó sẽ bị sai sảy.

Chẳng phải vậy đâu.

Vì sao vậy?

Từ rày trở đi, các ông có tinh tấn thì chỉ là chính các ông tinh tấn, bỏ đường trần tiến vào cảnh Thánh, đấy là hành vi của bậc đại trí đại hiền. Còn nếu biếng nhác thì cũng chính là tự các ông biếng nhác, ngoảnh mặt với đại đạo, bước vào chỗ bùn lầy, đấy là hành vi của kẻ vô tri, hạ ngu.

Này các đệ tử!

Cần phải luôn tấn tu, chớ sanh lưu luyến, vướng mắc, luôn gấp rút nỗ lực, có chi mà buồn thương.

Lát sau, Bồ Tát lại dạy: Các ông chẳng nên mong tưởng Bồ Tát sẽ giáng cơ nữa.

Vì sao vậy?

Bày ra chuyện cầu cơ vốn là chỗ quỷ thần dựa dẫm, chứ chẳng phải là việc thường ứng hóa của bậc đại Bồ Tát. Nếu các ông tuân phụng lời ta dạy chẳng sai, đối với Bồ Tát sanh tấm lòng cung kính, sanh ý tưởng khó được gặp gỡ thì chính là báo ân một cách lớn lao.

Khi ấy, các đệ tử tuy nghe pháp dụ nhưng vẫn bịn rịn chẳng nỡ chia tay.

Bồ Tát lại dạy: Này các đệ tử!

Trong túc nhân xưa kia, Bồ Tát cùng các ông có đại duyên. Từ nay ta chẳng giáng đàn nữa, nhưng chẳng nên nghĩ là chúng ta lìa xa nhau. Nên biết rằng Giác Minh Diệu Hạnh lúc nào cũng ở ngay trước mắt các ông. Các ông dè dặt, chớ để một ngày nào quên mất, tự buông bỏ Giác Minh Diệu Hạnh.

Giây sau, Bồ Tát lại dạy: Này các đệ tử!

Pháp hội đã xong, ai nấy nên đi về đi.

Bồ Tát chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu.

Chớ nên khăng khăng chấp nê là Bồ Tát nhất định chỉ hiện diện trên một bức giấy mà thôi.

Ai nấy nên niệm một câu A Di Ðà Phật, chí thành làm lễ, cúi lạy nhận lãnh, phụng hành mới là phải vậy.

Bửu Quang tự đệ tử Như Hòa dịch xong ngày 13 tháng 08 năm 2002.

***